vanban.org

Bản án 44/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 20/03/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 01/2022/HS-ST ngày 25/10/2022 của Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị H 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huynh Thi Hau - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 01/2022/HS-ST ngày 25/10/2022 của Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2023/HS-PT
Ngày 20-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Bà Trần Thị Bé.

Các thẩm phán:

Ông Nguyễn Đức Dũng.

Bà Lê Thị Mỹ Giang.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Phong – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thành – Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 3 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 43/2022/TLPT-HS ngày 26 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo Huỳnh Thị H do có kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị H đối với bản án hình sự sơ thẩm số 01/2022/HS-ST ngày 25/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Huỳnh Thị H, sinh năm 2000, tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Thợ may; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Minh S và bà Nguyễn Thị K (Chết); có chồng Đàm Ả và 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa theo yêu cầu cho bị cáo Huỳnh Thị H: Ông Lê Hoàng Hiếu – Luật sư Công ty Luật TNHH MTV Thành Phát, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/5/2022, Huỳnh Thị H (Sinh năm: 2000, ở tại thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi) dự đám cưới của Nguyễn Thị Mỹ L (Sinh năm: 2000, ở tại thôn T, xã B huyện B, tỉnh Quảng Ngãi) tại thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Đến khoảng 22h30 cùng ngày, Huỳnh Thị H phát hiện chiếc túi xách da màu đen của chị Đặng Thị Hồng L1 (Sinh năm: 2000, ở tại thôn M, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi) để trên ghế trong rạp đám cưới nhưng không ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc túi xách nói trên. Lúc này, Huỳnh Thị H tiến lại gần và lấy chiếc túi xách nói trên rồi mang ra bên ngoài giấu vào cốp xe mô tô mang BKS 76C1-3xx.47 của mình rồi quay vô lại bên trong đám cưới để khỏi bị nghi ngờ. Sau khi phát hiện bị mất túi xách, Đặng Thị Hồng L1 hô lên thì những người có mặt trong đám cưới đi tìm nhưng không được nên ngày 13/5/2022, Đặng Thị Hồng L1 có đơn trình báo sự việc đến Công an xã Bình Đ.

Sau khi sự việc xảy ra, Công an huyện B tiến hành điều tra, xác minh và mời Huỳnh Thị H làm việc. Quá trình làm việc, Huỳnh Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp lại các tài sản đã trộm cắp gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, dung lượng 64GB, số Imei 1: 35657810xx79084, số Imei 2: 35657810xx34895; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, dung lượng 32GB, số Imei: 35535108xx78245; 01 Chiếc túi xách da màu đen, loại cầm tay, kt(25x12x10)cm; 01 giấy phép lái xe hạng A1; 01 thẻ sinh viên; 01 thẻ căn cước công dân đều mang tên Đặng Thị Hồng L1.

Ngày 20/6/2022 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B định giá các tài sản bị trộm cắp như sau: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, dung lượng 64GB, số Imei 1: 35657810xx79084, số Imei 2: 35657810xxx34895 trị giá 8.000.000 đồng; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, dung lượng 32GB, số Imei: 35535108xxx78245 trị giá 2.500.000 đồng; 01 (Một) chiếc túi xách da màu đen, loại cầm tay, kt(25x12x10)cm trị giá 150.000 đồng. Tổng giá trị các tài sản Huỳnh Thị H trộm cắp trị giá là 10.650.000 đồng (Mười triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng).

Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2022/HS-ST ngày 25/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị H 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 04/11/2022, bị cáo Huỳnh Thị H kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Huỳnh Thị H vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Huỳnh Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo của người bị hại, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự được áp dụng thêm cho bị cáo, hiện nay gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo đang nuôi 02 con nhỏ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị H, xử phạt bị cáo 06 tháng tù cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.

- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Thị H phát biểu luận cứ bào chữa cho bị cáo H: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Huỳnh Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, xét xử bị cáo với mức hình phạt 09 tháng tù là có phần nghiêm khắc; vì bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới tại cấp phúc thẩm là người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng; hiện nay bị cáo đang nuôi 02 con gái, còn nhỏ nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Bị cáo đủ các điều kiện được hưởng án treo theo quy định của pháp luật, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi của bị cáo Huỳnh Thị H: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Huỳnh Thị H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 12/5/2022, bị cáo Huỳnh Thị H đã lén lút trộm cắp của chị Đặng Thị Hồng L1 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu trắng, 01 chiếc túi xách da màu đen, loại cầm tay và trộm cắp của anh Võ Đình H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của chị L1, anh H là 10.650.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Huỳnh Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị H, thì thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của chị L1, anh H, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cân nhắc về nhân thân, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Thị H 09 (Chín) tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp đơn xin giảm nhẹ hình phạt của người bị hại cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự được áp dụng thêm cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị H, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo H.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Đề nghị của Luật sư không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Huỳnh Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 01/2022/HS-ST ngày 25/10/2022 của Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị H 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

2. Bị cáo Huỳnh Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ