vanban.org

Bản án 44/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 11/05/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/05/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng D 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành hình phạt. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Lê Hoàng D phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2023/HS-PT
Ngày: 11-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Hùng.

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Cường;

Bà Vũ Thị Thanh Hòa;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bùi Tuyết Hân, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2023/TLPT-HS ngày 06 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo Lê Hoàng D, do có kháng cáo của bị cáo Lê Hoàng D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2023/HS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

- Bị cáo có kháng cáo: Lê Hoàng D, sinh năm 1992, tại tỉnh Bình Thuận, Nơi đăng ký thường trú: Thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Ngọc D1 và bà Lâm Thị M; có Vợ: Trần Thị T (đã ly hôn) và 01 con (sinh năm 2014); Tiền sự; tiền án: Không ; bị cáo tại ngoại, có mặt.

Trong vụ án còn có bị hại Lư Văn N không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 16/4/2022, Lư Văn N điều khiển xe mô tô về nhà bà Nguyễn Thị P (mẹ ruột của N) ở thôn L, xã P, huyện T chơi. Sau đó, N điều khiển xe mô tô đi ra về thì xe mô tô của N bị hư hỏng nên có nẹt pô để kiểm tra tình trạng pô xe gây ồn ào tại nhà của bà P dẫn đến xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau với Phan Thanh C (là hàng xóm của bà P). Lúc này, C bỏ chạy vào trong nhà của C thì gặp Lê Hoàng D (em họ của vợ C) đang ở trong nhà và nói N hăm dọa đòi đánh C. Do bực tức nên D liền chạy ra phía sau bếp nhà C lấy 01 con dao làm bếp dài khoảng 40cm, lưỡi bằng kim loại sắc bén, cán bằng gỗ tròn và điều khiển xe mô tô chạy qua phía cổng nhà P để tìm đánh N. Thấy D cầm hung khí qua nhà thì Nguyễn Thị P1 (chị ruột của N) và Lư Thị Kim U (em ruột của N) sợ D đánh N nên đã kéo N vào bên trong nhà. D liền cầm dao chạy vào bên trong nhà chém Ngan 02 nhát theo hướng từ trên xuống gây thương tích ở vùng đầu của N. Sau đó, D được Phan Rí C1 (con ruột của C) can ngăn nên D bỏ đi về, N được đưa đi điều trị thương tích. Ngày 19/4/2022, Lư Văn N có đơn yêu cầu khởi tố hình sự đối với Lê Hoàng D.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 288/2022/TgT ngày 20/5/2022 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh B kết luận, tỷ lệ thương tích của Lư Văn N:

Vùng đỉnh đầu để lại 02 vết thương phần mềm đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành, kích thước:

+ Vết 1: 03 x 0,2cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 01%

+ Vết 2: 03 x 0,2cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 01%

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 02%.

Các vết thương do vật sắc gây ra.

Các vết thương có chiều hướng tác động từ trên xuống dưới.

Vật chứng: không thu giữ được do D đã vứt con dao.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2023/HS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2023, của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ: điểm a, điểm i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng D 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án phạt tù.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử trách nhiệm bồi thường, lãi suất do chậm thi hành án, án phí theo quy định.

Ngày 09 tháng 02 năm 2023, bị cáo Lê Hoàng D có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án phúc thẩm xem xét cho bị cáo D được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo Lê Hoàng D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Bình Thuận phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hoàng D về việc xin hưởng án treo; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2023/HS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 16/4/2022, bị cáo Lê Hoàng D nghe Phan Thanh C (là anh họ của bị cáo D) nói bị Lư Văn N cầm cây gỗ dọa đánh, bị cáo D đã có hành vi dùng 01 con dao làm bếp dài khoảng 40cm, lưỡi bằng kim loại sắc bén, cán bằng gỗ tròn (là hung khí nguy hiểm) xông vào nhà Nguyễn Thị P (mẹ ruột của bị hại) chém Lư Văn N 02 nhát trúng vào vùng đỉnh đầu. Theo kết luận giám định, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lư Văn N là 02%. Giữa bị cáo Lê Hoàng D và bị hại Lư Văn N không có mâu thuẫn gì nhưng bị cáo gây thương tích cho bị hại là “Có tính chất côn đồ”. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử bị cáo Lê Hoàng D phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.

Xét kháng cáo của bị cáo Lê Hoàng D xin được hưởng án treo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Lê Hoàng D thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Đã nộp tiền bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; Nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Hoàng D 06 tháng tù là phù hợp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Hoàng D không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới. Xét tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội “Có tính chất côn đồ” nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hoàng D về việc xin hưởng án treo. Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Lê Hoàng D phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Hoàng D, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2023/HS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

1. Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng D 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành hình phạt.

2. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Lê Hoàng D phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 11/5/2023).

Cỡ chữ