vanban.org

Bản án 44/2023/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lưu Thị Bạch T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị Bạch T và anh Trần Thành Tr được ly hôn. [3] Về con chung: Chị Lưu Thị Bạch T được tiếp tục nuôi Trần Ngọc Khánh A1, sinh ngày 01/10/2019, giới tính nữ. Anh Trần Thành Tr có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi Khánh A1 mỗi tháng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), cấp dưỡng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lưu Thị Bạch T.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25/7/2023
V/v tranh chấp ly hôn,
nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Thanh Quyền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Út

Ông Nguyễn Văn Trưởng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 120/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lưu Thị Bạch T, sinh năm 1992 (vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt)

Địa chỉ: ấp 6, xã A, thị xã M, tỉnh HG

2. Bị đơn: Anh Trần Thành Tr, sinh năm 1991 (vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt)

Địa chỉ: ấp 6, xã A, thị xã M, tỉnh HG

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lưu Thị Bạch T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Tr sống chung và đăng ký kết hôn vào ngày 05/5/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Long Trị A, thị xã Long Mỹ, sống với nhau được 01 thời gian thì phát sinh mâu thuẫn.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Trong thời gian chung sống, vợ chồng bất đồng quan điểm, không có sự chia sẻ, ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày của gia đình. Nhận thấy, đời sống chung không thể hòa hợp và duy trì được nữa nên yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Chị T và anh Tr có 02 con chung tên Trần Thiên A, sinh ngày 18/10/2015, giới tính: nam và Trần Ngọc Khánh A1, sinh ngày 01/10/2019, giới tính nữ. Hiện nay, Thiên A đang sống chung với anh Tr, Khánh An đang sống chung với chị T. Sau khi ly hôn chị T yêu cầu được nuôi Khánh An, yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng; đối với Thiên Ân thì thống nhất để cho anh Tr tiếp tục nuôi dưỡng, chị T chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Trần Thành Tr trình bày: Anh Tr thống nhất phần trình bày của chị T về thời gian đăng ký kết hôn. Anh Trần Thành Tr thống nhất ly hôn.

Về con chung: Có 02 con chung như chị T trình bày. Hiện nay, Thiên A đang sống chung với anh Tr, Khánh A1 đang sống chung với chị T. Sau khi ly hôn chị T được nuôi Khánh A1, anh Tr thống nhất cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng; đối với Thiên A thì thống nhất để cho anh Tr tiếp tục nuôi dưỡng, anh Tr chưa yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về trình tự, thủ tục.

Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn thị xã Long Mỹ nên Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Nguyên đơn chị Lưu Thị Bạch T, bị đơn anh Trần Thành Tr có yêu cầu xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị Bạch T và anh Trần Thành Tr tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Trị A, thị xã Long Mỹ vào ngày 05/5/2017 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Vợ chồng chung sống được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cự cải, cuộc sống chung không hạnh phúc. Chị T yêu cầu ly hôn, anh Tr cũng thống nhất ly hôn nên Hội đồng xét xử thống nhất giữa chị T và anh Tr được ly hôn.

[2.2] Về con chung: Chị T và anh Tr có 02 con chung tên Trần Thiên A, sinh ngày 18/10/2015, giới tính: nam và Trần Ngọc Khánh A1, sinh ngày 01/10/2019, giới tính nữ. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con…”. Hội đồng xét xử nhận định, quá trình giải quyết vụ án, chị T và anh Tr thống nhất để chị T trực tiếp nuôi Khánh A1, anh Tr trực tiếp nuôi Thiên A. Sự thỏa thuận này cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung Thiên A nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Chị T yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, anh Tr cũng thống nhất cấp dưỡng nuôi Khánh A1 mỗi tháng 1.000.000 đồng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất việc anh Tr có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung Khánh A1 là 1.000.000 đồng/tháng. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 25/7/2023 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Tr chưa yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con nên chưa xem xét.

Anh Tr, chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.

Về án phí:

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp số tiền 300.000 đồng.

Về án phí cấp dưỡng nuôi con: Bị đơn anh Trần Thành Tr phải chịu số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56; Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lưu Thị Bạch T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị Bạch T và anh Trần Thành Tr được ly hôn.

[3] Về con chung: Chị Lưu Thị Bạch T được tiếp tục nuôi Trần Ngọc Khánh A1, sinh ngày 01/10/2019, giới tính nữ. Anh Trần Thành Tr có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi Khánh A1 mỗi tháng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), cấp dưỡng hàng tháng đến khi Khánh An đủ 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng được tính kể từ ngày 25/7/2023.

Anh Trần Thành Tr được tiếp tục nuôi Trần Thiên A, sinh ngày 18/10/2015, giới tính: nam. Chị Lưu Thị Bạch T chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Trần Thành Tr; chị Lưu Thị Bạch T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[5] Về án phí:

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Lưu Thị Bạch T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004753 ngày 15 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Chị Lưu Thị Bạch T đã nộp xong án phí.

Về án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Thành Tr phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

[6] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[7] Nguyên đơn chị Lưu Thị Bạch T, bị đơn anh Trần Thành Tr được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ