vanban.org

Bản án 44/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D với anh Phan Văn N.

1 Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị D đƣợc ly hôn với anh Phan Văn N (Giấy chứng nhận kết hôn số 36, Quyển số 01/2007 ngày 28 tháng 9 năm 2007 do Ủy ban nhân dân xã P1, huyện L, tỉnh Q cấp). 2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Phan Thị Lệ Q, sinh ngày 25/7/2010 và Phan Minh Q1, sinh ngày 03/12/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Nguyễn Thị D yêu cầu ly hôn, nuôi con với anh Phan Văn N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D với anh Phan Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
———————
Bản án số: 44/2023/HNGĐ-ST
Ngày 10 - 04 - 2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Kiều Thị Uyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Tú Nhi – Hƣu Trí;

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm – Chủ tịch Hội LHPN phƣờng Bình Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Phƣơng - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 613/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2023/QĐST - HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2023, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1988; thƣờng trú: Thôn P, xã P1, huyện L, tỉnh Q; tạm trú: số 36, đƣờng số 2, khu phố B4, phƣờng A, thành phố D, tỉnh B. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt

Bị đơn: Anh Phan Văn N, sinh năm 1985; thƣờng trú: Thôn P, xã P1, huyện L, tỉnh Q; tạm trú: số 36/6, khu phốT2, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 10 năm 2022 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Phan Văn N tự nguyện yêu nhau, tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P1, huyện L, tỉnh Q theo giấy chứng nhận kết hôn số 36, Quyển số 01/2007 ngày 28 tháng 9 năm 2007.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đƣợc một thời gian thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, thƣờng xuyên tranh cãi, vợ chồng sống ly thân từ năm 2017. Chị Nguyễn Thị D xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Phan Văn N.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Phan Thị Lệ Q, sinh ngày 25/7/2010 và cháu Phan Minh Q1, sinh ngày 03/12/2005. Từ khi vợ chồng sống ly thân các con chung do chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dƣỡng. Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị D đề nghị đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng 02 con chung là cháu Phan Thị Lệ Q và Phan Minh Q1 và không yêu cầu anh Phan Văn N thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con đối với cả hai cháu.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị D không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Bị đơn anh Phan Văn N:

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và triệu tập đến Tòa án để cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa vào các ngày 22/03/2023 và 10/04/2023 nhƣng anh Phan Văn N không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, vắng mặt không có lý do, không cung cấp chứng cứ và không nêu ý kiến đối với các yêu cầu của nguyên đơn.

Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Phan Văn N do Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xác minh ngày 14/01/2023, Hội Liên hiệp phụ nữ phƣờng Tân Bình cung cấp thông tin nhƣ sau: Chị Nguyễn Thị D không phải là hội viên của Hội phụ nữ phƣờng. Trƣớc khi khởi kiện ly hôn tại Tòa án, chị Nguyễn Thị D không có yêu cầu địa phƣơng tổ chức hòa giải cơ sở. Vì vậy, Hội Liên hiệp phụ nữ phƣờng Tân Bình cũng không rõ nguyên nhân mâu thuẫn và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung giữa chị Nguyễn Thị D và anh Phan Văn N.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Bị đơn đã đƣợc triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào ngày 22/3/2023 và ngày 10/04/2023 nhƣng vắng mặt không có lý do, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định. Về nội dung: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về việc vắng mặt của các đƣơng sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn anh Phan Văn N vắng mặt tại phiên tòa hai lần liên tiếp không có lý do. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Phan Văn N là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại xã P1, huyện L, tỉnh Q theo giấy chứng nhận kết hôn số 36, Quyển số 01/2007 ngày 28 tháng 9 năm 2007 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Chị Nguyễn Thị D cho rằng quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, không quan tâm, chia sẻ với nhau, thƣờng xuyên tranh cãi, vợ chồng sống ly thân từ năm 2017. Nay, chị Nguyễn Thị D xác định tình cảm vợ chồng với anh Phan Văn N không còn mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên yêu cầu đƣợc ly hôn. Bản thân anh Phan Văn N sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng anh Phan Văn N không có mặt và cũng không có bất kỳ ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn, điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn và không muốn hàn gắn, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân này cũng không đạt đƣợc mục đích. Vì vậy, xét thấy không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống chung của vợ chồng nên yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị D là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Nguyễn Thị D và anh Phan Văn N có 02 con chung tên Phan Thị Lệ Q, sinh ngày 25/07/2010 và Phan Minh Q1, sinh ngày 03/12/2005. Chị Dung có nguyện vọng đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng 02 con chung là cháu Phan Thị Lệ Q và Phan Minh Q1. Anh Phan Văn N không có ý kiến về vấn đề con chung. Xét thấy, việc giao con cho ai chăm sóc phải đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho các cháu. Từ khi vợ chồng sống ly thân con chung do chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dƣỡng vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt, chị Trịnh Thị Dung là ngƣời có khả năng lao động, có thu nhập hàng tháng ổn định nên có đủ khả năng nuôi con, đồng thời tại bản tự khai ngày 01/3/2023 của cháu Phan Minh Q1 và bản tự khai ngày 06/3/2023 của cháu Phan Thị Lệ Q có nguyện vọng đƣợc ở với mẹ là chị Trịnh Thị Dung. Căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình có cơ sở giao cháu Phan Thị Lệ Q, sinh ngày 25/7/2010 và cháu Phan Minh Q1, sinh ngày 03/12/2005 cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dƣỡng. Anh Phan Văn N có quyền đi lại, thăm nom con.

Về cấp dƣỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị D về việc không yêu cầu anh Phan Văn N phải phải cấp dƣỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích trên, xét thấy có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.

Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: Chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí không có giá ngạch theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào các Điều 147, 227, 228, 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị D với anh Phan Văn N.

1.1 Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị D đƣợc ly hôn với anh Phan Văn N (Giấy chứng nhận kết hôn số 36, Quyển số 01/2007 ngày 28 tháng 9 năm 2007 do Ủy ban nhân dân xã P1, huyện L, tỉnh Q cấp).

1.2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Phan Thị Lệ Q, sinh ngày 25/7/2010 và Phan Minh Q1, sinh ngày 03/12/2005 cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dƣỡng.

Sau ly hôn chị Nguyễn Thị D và anh Phan Văn N đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

1.3. Về cấp dƣỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị D về việc không yêu cầu anh Phan Văn N cấp dƣỡng nuôi con.

1.4. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn đƣợc khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000843 ngày 08/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Chị Nguyễn Thị D đã nộp đủ.

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ