vanban.org

Bản án 44/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 28/04/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

p dụng các Điều 51; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

p dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. * Tuyên Xử: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Phạm Thị S yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất giải quyết được ly hôn với anh Trần Văn L."
  • Tòa quyết gì? p dụng các Điều 51; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒN ĐẤT
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 28/4/2023
Về việc: “Xin ly hôn và nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Cao Quốc Chiến

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Kim Hoa

Bà Nguyễn Thị Hồng Ánh

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Diệp - Thư ký TAND huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn đất tham phiên tòa: Không.

Ngày 28 tháng 4 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 44/2023/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2023 về việc: “Xin ly hôn và nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2023/QĐST - HNGĐ, ngày 27 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13/4/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị S, sinh năm 1996 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: tổ 2, ấp Đ, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

Bị đơn: Anh Trần Văn L, sinh năm 1990 (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 03/3/2023 nguyên đơn chị Phạm Thị S trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Chị và anh L lấy nhau là do tự tìm hiểu, yêu thương nhau được hai bên gia đình đồng ý tổ chức làm đám cưới vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện H và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 09/7/2017. Thời gian đầu tình cảm giữa vợ chồng rất vui vẻ và hạnh phúc, có 02 người con chung. Tuy nhiên, thời gian sau thì giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh L thường hay ghen tuông và kiếm chuyện hành hạ chị. Chị S đã khuyên nhủ nhiều lân nhưng anh L vẫn không thay đổi. Hiện nay chị S và anh L đang sống ly thân với nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn được. Do đó, chị S yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất giải quyết được ly hôn với anh Trần Văn L.

Về con chung: Có 02 người con chung tên Trần Thị Kiều M, sinh ngày 14/6/2013 và Trần Quốc L, sinh ngày 12/10/2016. Chị S yêu cầu được nuôi dưỡng hai người con chung đến tuổi trưởng thành. Chị S không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

* Ý kiến của bị đơn anh Trần Văn L: Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định, nhưng anh L vẫn vắng mặt. Do đó, không có lời khai của anh Trần Văn L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên c u các tài liệu có trong h sơ v án và đ đư c thẩm tra tại phiên Tòa, căn c kết quả tranh lu n tại phiên toà Hội đ ng x t x nh n định v án này như sau:

[1] Về thẩm quyền: Theo nội dung đơn xin ly hôn của chị Phạm Thị S thì đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại ấp B, xã B, huyện H nên quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất.

Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị S có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Trần Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai những vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Chị Phạm Thị S và anh Trần Văn L là vợ chồng hợp pháp do đã được UBND xã B, huyện H cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 09/7/2017. Quá trình chung sống giữa chị S và anh L phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh L thường hay ghen tuông và kiếm chuyện hành hạ chị S. Chị S đã khuyên nhủ nhiều lân nhưng anh L vẫn không thay đổi. Nay chị Phạm Thị S nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không đạt được mục đích, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn L.

Xét yêu cầu của chị S Hội đồng xét xử thấy rằng: Tình cảm vợ chồng giữa chị S và anh L không còn khả năng đoàn tụ vì theo chị S trình bày thì giữa anh chị có phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung; đồng thời trong thời gian sống ly thân anh chị cũng không liên lạc hay quan tâm gì đến nhau. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị S và anh L đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Phạm Thị S được ly hôn với anh Trần Văn L là phù hợp theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Có 02 người con chung tên Trần Thị Kiều M, sinh ngày 14/6/2013 và Trần Quốc L, sinh ngày 12/10/2016.

Xét yêu cầu của chị S Hội đồng xét xử thấy rằng việc giao con cho ai nuôi dưỡng thì phải xem xét toàn diện mọi mặt về vật chất cũng như tinh thần đối với sự phát triển của con chung sau này. Hiện nay cháu M và cháu L do chị S nuôi dưỡng, phát triển tâm sinh lý bình thường. Đồng thời, tại bản tự khai ngày 03/3/2023 cháu M có nguyện vọng được ở với mẹ (chị S) khi cha mẹ ly hôn. Do đó, việc giao cho chị S được tiếp tục nuôi dưỡng cháu M và cháu L là hoàn toàn phù hợp. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị S, giao 02 người con chung tên Trần Thị Kiều M, sinh ngày 14/6/2013 và Trần Quốc L, sinh ngày 12/10/2016 cho chị S nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị S không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Phạm Thị S phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- p dụng các Điều 51; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- p dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

* Tuyên Xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị S về việc xin ly hôn với anh Trần Văn L.

1/. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị S ly hôn với anh Trần Văn L.

2/ Về con chung: Giao 02 người con chung tên Trần Thị Kiều M, sinh ngày 14/6/2013 và Trần Quốc L, sinh ngày 12/10/2016 cho chị Phạm Thị S nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

Anh Trần Văn L có quyền được thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản theo quy định của pháp luật.

Bảo lưu quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con chung khi một trong các bên có yêu cầu.

3/ Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên miễn xét.

4/ Về n chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên miễn xét.

5/ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Phạm Thị S phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Đối tr số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004271 ngày 27/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Theo đó chị Phạm Thị S không phải nộp thêm.

6/ Quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nhận được bản án hoặc kể t ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ