vanban.org

Bản án 44/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Kim G được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.

Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 29/8/2016 và cháu Nguyễn Trần Bảo C, sinh ngày 24/01/2018 cho chị G được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Kim G được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH TƯỜNG
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2023/HNGĐ - ST
Ngày 24 - 7 – 2023
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Triển và ông Phùng Văn Thông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 124/2023/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kim G, sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn , xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn M, xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn đề ngày 21 tháng 4 năm 2023, những lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Kim G trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn Q kết hôn vào ngày 10 tháng 11 năm 2014, trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi kết hôn, chị về làm dâu và sống chung cùng gia đình anh Q. Qúa trình chung sống, tình cảm vợ chồng ban đầu hạnh phúc. Đến tháng 02 năm 2023, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, anh Q ham chơi không quan tâm đến gia đình, vợ con. Chị đã nhiều lần cho anh Q cơ hội để thay đổi nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện. Vợ chồng ly thân từ tháng 02/2023 đến nay. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q.

- Bị đơn anh Nguyễn Văn Q vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại đơn trình bày và đơn xin xét xử vắng mặt ngày 18/7/2023, anh Q xác nhận lời trình bày của chị G về thời gian kết hôn, quá trình vợ chồng chung sống, thời gian mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là đúng. Vợ chồng ly thân từ tháng 02/2023 cho đến nay. Nay chị G xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị G được ly hôn, anh đồng ý.

Về con chung: Chị G và anh Q xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 29/8/2016 và cháu Nguyễn Trần Bảo C, sinh ngày 24/01/2018. Hiện cháu B, cháu C đang ở với chị G. Ly hôn, chị G và anh Q đều có nguyện vọng để chị G được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu B và cháu C. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức, đất canh tác: Chị G và anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí và lệ phí Tòa án cho chị Trần Thị Kim G ly hôn anh Nguyễn Văn Q. Về con chung, giao con chung là cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 29/8/2016 và cháu Nguyễn Trần Bảo C, sinh ngày 24/01/2018 cho chị G được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức, đất canh tác: Do các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị G phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Chị Trần Thị Kim G khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Văn Q có địa chỉ tại thôn Môn Trì, xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của bị đơn là anh Nguyễn Văn Q: Anh Nguyễn Văn Q vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Kim G và anh Nguyễn Văn Q là hợp pháp. Qúa trình chung sống, đến tháng 02 năm 2023, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên chị G đã ra ngoài thuê nhà ở. Vợ chồng ly thân từ tháng 02 năm 2023 cho đến nay không có dàn xếp gì. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày. Bản thân anh Q ham chơi, không quan tâm đến gia đình, vợ con. Nay chị G xác định tình cảm vợ chồng không còn và yêu cầu Tòa án giải quyết cho cho chị ly hôn, anh Q đồng ý. Lẽ ra, Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị G và anh Q. Tuy nhiên, do anh Q vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị G được ly hôn anh Q.

Về con chung: Chị G và anh Q xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 29/8/2016 và cháu Nguyễn Trần Bảo C, sinh ngày 24/01/2018. Hiện cháu B, cháu C đang ở với chị G. Ly hôn, chị G và anh Q đều có nguyện vọng để chị G được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bảo, cháu Châu và anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy: Việc chị G và anh Q đều có nguyện vọng để chị G được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bảo, cháu Châu là hoàn toàn tự nguyện nên cần giao cháu Nguyễn Gia B và cháu Nguyễn Trần Bảo C cho chị G tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức và đất canh tác: Chị G và anh Q không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị G phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Kim G được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 29/8/2016 và cháu Nguyễn Trần Bảo C, sinh ngày 24/01/2018 cho chị G được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở, gây khó khăn.

3. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức và đất canh tác: Chị G và anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trần Thị Kim G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số: 0000262 ngày 26 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ