- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vũ Thị H ly hôn anh Nguyễn Văn B.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12-7-2023 V/v “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Mai Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Kim Sơn
2. Ông Chu Quốc Đạt
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xét xử sơ thẩm vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 156/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn R, xã Đ, huyện L, tỉnh B.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn R, xã Đ, huyện L, tỉnh B.
(Chị H, anh B xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn B vào năm 2009, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ theo quy định pháp luật. Trước khi kết hôn hai bên có được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn.
Vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc với nhau đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh B chơi bời, nợ nần nhiều dẫn đến vợ chồng hay cãi nhau. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 02/2023, không quan tâm tới nhau nữa. Nay chị xác định bản thân không còn tình cảm với anh B nên chị yêu cầu xin ly hôn anh B.
Về con chung: Chị và anh B có 03 con chung là Nguyễn Văn Minh Quân, sinh ngày 14/6/2010, Nguyễn Thị Trà My, sinh ngày 02/10/2012 và Nguyễn Thị Ngọc Diễm, sinh ngày 16/8/2018. Do anh B phải thường xuyên đi làm công trình xa không có điều kiện chăm sóc con nên chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 03 con chung. Chị không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con. Bản thân chị có công việc, thu nhập ổn định và có đủ điều kiện để nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Văn B trình bày: Anh xác nhận về thời gian, điều kiện kết hôn giữa hai vợ chồng như chị H trình bày là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng không hợp nhau nên xảy ra cãi cọ, từ tháng 02/2023 chị H bỏ về ngoại ở hẳn. Nay chị H xin ly hôn, anh nhất trí.
Về con chung: Anh và chị H có 03 con chung đúng như chị H trình bày. Do anh đi làm công trình không có điều kiện chăm sóc con chung, bản thân chị H có công việc ổn định, có thu nhập, chỗ ở, đủ điều kiện để nuôi con nên anh đề nghị giao cả 03 con chung cho chị H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thu thập tài liệu chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án, lấy lời khai của con chung để xem xét nguyện vọng của các con, mở pH họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định pháp luật.
* Tại pH toà:
Nguyên đơn chị Vũ Thị H, bị đơn anh Nguyễn Văn B xin vắng mặt tại pH toà. Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) công bố các lời khai, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX và Thư ký pH tòa là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX: Cho chị H được ly hôn anh B; Về con chung: Giao con chung Nguyễn Văn Minh Quân, sinh ngày 14/6/2010, Nguyễn Thị Trà My, sinh ngày 02/10/2012 và Nguyễn Thị Ngọc Diễm, sinh ngày 16/8/2018 cho chị H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, công nợ chung: Do H, anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.
Kiến nghị, khắc phục vi phạm: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi ngH cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi thẩm tra các chứng cứ tại pH toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại pH toà, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng:
[1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Vũ Thị H làm đơn khởi kiện ly hôn anh Nguyễn Văn B, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang là nơi bị đơn cư trú giải quyết là đúng quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị H khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh B, yêu cầu được nuôi con chung. Căn cứ Điều 51, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Lạng Giang thụ lý, giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
Sự vắng mặt của các đương sự: Chị H, anh B đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX xét xử theo thủ tục vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân:
Chị H và anh B đăng ký kết hôn ngày 10/11/2009 tại UBND xã Đào Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh B Giang trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên xác định là hôn nhân giữa chị H và anh B là hợp pháp.
Quá trình chung sống, bản thân chị H và anh B đều xác định trong quan hệ hôn nhân, vợ chồng có mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống; vợ chồng đã ly thân nhau từ tháng 02/2023 đến nay, không còn quan tâm tới nhau. Nay chị H xác định không còn tình cảm vợ chồng, đề nghị giải quyết cho chị được ly hôn; anh B đồng ý ly hôn. Do đó, có đủ cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình để xử cho chị H được ly hôn anh B.
Về quan hệ con chung: Chị H và anh B có 03 con chung là Nguyễn Văn Minh Quân, sinh ngày 14/6/2010, Nguyễn Thị Trà My, sinh ngày 02/10/2012 và Nguyễn Thị Ngọc Diễm, sinh ngày 16/8/2018. Chị H, anh B đều có nguyện vọng để chị H nuôi dưỡng cả 03 con chung sau khi ly hôn do chị H có công việc, thu nhập ổn định và đủ điều kiện để nuôi con. Do đó, cần giao 03 con chung cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.
Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung nên Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc bên không nuôi con phải có nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị H, anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử :
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vũ Thị H ly hôn anh Nguyễn Văn B.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Văn Minh Quân, sinh ngày 14/6/2010, Nguyễn Thị Trà My, sinh ngày 02/10/2012 và Nguyễn Thị Ngọc Diễm, sinh ngày 16/8/2018 cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh Nguyễn Văn B không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Nguyễn Văn B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở anh B thực hiện quyền này.
3. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005491 ngày 19/5/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang. Xác nhận chị H đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị H, anh Nguyễn Văn B vắng mặt tại pH tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Bắc Giang; - Chi cục THADS huyện Lạng Giang; - TAND tỉnh Bắc Giang; - UBND xã Đào Mỹ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Mai Lan |