- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chị C và anh H"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Phạm Thị C được ly hôn anh Hồ Xuân H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2023/HNGĐ-ST Ngày 08- 8-2023 V/v ly hôn và nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Khúc Trọng Q
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Khúc Thị Minh
Bà Đặng Thị Đôi
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quý Linh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Tuyết C - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2023/QĐST- HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị C, sinh năm 1978; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Q, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng, có mặt.
- Bị đơn: Anh Hồ Xuân H, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 20 tháng 4 năm 2023 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện K, nguyên đơn là chị Phạm Thị C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị C và anh Hồ Xuân H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 17 tháng 6 năm 1997 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn anh, chị cùng chung sống hạnh phúc được khoảng 20 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và nghi ngờ nhau về mặt tình cảm nên thường xuyên xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải xong không cải thiện được mà ngày càng căng thẳng hơn. Đến khoảng tháng 12 năm 2022 chị C đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ đó cho đến nay, trong thời gian sống ly thân chị C và anh H không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị C đề nghị Tòa án giải quyết cho chị C được ly hôn với anh Hồ Xuân H.
Về con chung: Chị C khai vợ chồng có 03 con chung là Hồ Xuân K, sinh ngày 10 tháng 3 năm 2009; Hồ Đức Q, sinh ngày 10 tháng 8 năm 1997 và Hồ Thị L, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2000. Trường hợp ly hôn chị C đồng ý để anh H tiếp tục nuôi dưỡng cháu K cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; hai cháu Hồ Đức Q và Hồ Thị L đã trên 18 tuổi nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chị C tự thỏa thuận với anh H, do vậy không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị C để tự thỏa thuận với anh H, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Hồ Xuân H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đến ngày Tòa án mở phiên tòa xét xử lần thứ hai anh H vẫn vắng mặt tại Tòa án và không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị C.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị C và anh Hồ Xuân H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị C được ly hôn anh Hồ Xuân H. Về con chung, giao con là Hồ Xuân K cho anh H nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị C đề nghị để tự thỏa thuận giải quyết nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét; về tài sản chung do chị C đề nghị để tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết, nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:: Bị đơn là anh Hồ Xuân H đã được Toà án triệu tập hợpB lệ để anh H có mặt tại Toà án trình bày ý kiến của mình về việc chị Phạm Thị C có đơn xin ly hôn nhưng anh H vắng mặt tại phiên tòa hai lần không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn là anh Hồ Xuân H.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị C và anh Hồ Xuân H được xác định là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được khoảng 20 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống sinh hoạt và nghi ngờ nhau về mặt tình cảm dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Do mâu thuẫn nên chị C và anh H đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2022 cho đến nay. Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương và gia đình thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa chị C và anh H phù hợp với lời khai của chị C. Chị C đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H, anh H không có mặt tại Tòa án theo giấy triệu tập của Tòa án và vắng mặt tại các buổi hòa giải cũng như tại phiên tòa xét xử. Như vậy thể hiện tình trạng hôn nhân giữa chị C và anh H đã trầm trọng, khả năng vợ chồng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị C xin ly hôn với anh H.
Về con chung: Chị C và anh H có 03 con chung là Hồ Xuân K, sinh ngày 10 tháng 3 năm 2009; Hồ Đức Q, sinh ngày 10 tháng 8 năm 1997 và Hồ Thị L, sinh ngày 07 tháng 8 năm 2000. Trường hợp ly hôn chị C đồng ý để anh H tiếp tục nuôi dưỡng cháu K cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; hai cháu Hồ Đức Q và Hồ Thị L đã trên 18 tuổi nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Việc giao con chưa thành niên cho ai nuôi cần xem xét để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên cũng như đảm bảo quyền được chăm sóc nuôi dưỡng con của cả cha, mẹ. Xét hiện nay cháu K hiện đang ở cùng anh H, cháu hiện vẫn đang được chăm sóc tốt và học hành đầy đủ đồng thời có nguyện vọng được ở cùng với anh H, anh H có đủ điều kiện để nuôi dưỡng và chăm sóc con chung. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của chị C, giao con chung là Hồ Xuân K cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là có căn cứ.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị C đề nghị để tự thỏa thuận với anh H, anh H vắng mặt tại phiên tòa, do vậy tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của chị C cho đến khi anh H có yêu cầu.
Về tài sản chung: Chị C đề nghị để vợ chồng tự thỏa thuận về tài sản chung, không đề nghị Tòa án giải quyết; anh H vắng mặt và chưa có lời khai về tài sản chung vợ chồng, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị C được ly hôn anh Hồ Xuân H.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Giao con chung Hồ Xuân K, sinh ngày 10 tháng 3 năm 2009 cho anh Hồ Xuân H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Cháu Hồ Đức Q và Hồ Thị L đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
2.2. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của chị Phạm Thị C cho đến khi anh Hồ Xuân H có yêu cầu.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Phạm Thị C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí chị C đã nộp theo biên lai số 0001942 ngày 02/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, thành phố Hải Phòng. Chị C đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị C có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Hồ Xuân H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND thành phố Hải Phòng;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện K;
- Chi cục THADS huyện K;
- UBND xã T, K;
- Đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
Khúc Trọng Q
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Khúc Trọng Q
Khúc Thị Minh - Đặng Thị Đôi
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện K; - Chi cục THADS huyện K; - UBND xã Minh Tân, huyện K ; - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 22 tháng 4 năm 2022. Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Khúc Trọng Q Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Đôi Ông Cao Văn Tân tháng 3 năm 2022 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn ”giữa: Minh Tân, huyện K, thành phố Hải Phòng, có mặt. Tân, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt. kết quả tranh luận tại phiên toà, các quy định của pháp luật. I.Về điều luật áp dụng: 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: II. Nội dung: 1. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị C được ly hôn anh Hồ Xuân H. 2. Về nuôi con chung: chị Phạm Thị C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. giải quyết, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của anh Hồ Xuân H cho đến khi chị C có yêu cầu. con mà không ai được cản trở. 3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí chị C đã nộp theo biên lai số 0001666 ngày 08/3/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, thành phố Hải Phòng. Chị C đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm. mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án; anh Hồ Xuân H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ. hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Kết quả biểu quyết: 3/3 Nghị án kết thúc vào hồi 08 giờ 45 phút ngày 22 tháng 4 năm 2022. nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Cao Văn Tân – Đặng Thị Đôi | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Khúc Trọng Q 1100 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 27/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 - Nguyên đơn: Chị Phạm Thị C, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn Đoàn Kết, xã - Bị đơn: Anh Hồ Xuân H, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn Đoàn Kết, xã Minh Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỤ THỂ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 1111 2.1. Giao con chung Lê Kim Ngọc Hân, sinh ngày 23 tháng 8 năm 2013 cho 2.2. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không xem xét Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom 4. Về án phí: Chị Phạm Thị C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) 5. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị C có quyền kháng cáo trong thời hạn Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Khúc Trọng Q 1122 1133 |