vanban.org

Bản án 44/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN
HUYỆN!H!
TỈNH!BÌNH!PHƯỚC!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 08-6-2023
V/v ly hôn

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!H,!TỈNH!BÌNH!PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị Phương

Bà Phạm Thị Thanh Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lan – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 87/2023/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2023 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2023/QĐXX-ST ngày 28 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Xuân Y, sinh năm 1986. Vắng mặt

Địa chỉ: Tổ 3, ấp L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước

- Bị đơn: Anh Phạm Triều V, sinh năm 1993. Vắng mặt

Địa chỉ: Tổ 3, ấp L, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo đơn khởi kiện và lời khai tại bản tự hai ngày 06/4/2023, nguyên đơn chị Lê Thị Xuân Y, trình bày:

Chị Y với anh V sau thời gian tìm hiểu và tự nguyện về chung sống với nhau từ năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được 03 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau khiến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không còn sự quan tâm, lo lắng cho nhau. Từ năm 2018, chị Y và anh V đã không còn chung sống với nhau. Nhận thấy mâu thuẫn giữa hai vợ chồng không thể hàn gắn được nên chị Y yêu cầu được ly hôn với anh V.

Về con chung: Có 01 con chung tên Phạm Khánh V1, sinh năm 2015. Khi ly hôn, chị Y yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có vay nợ của ai cũng không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh V đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa làm việc nên không thu thập được ý kiến của anh V.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tại phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký phiên tòa đã thựa hiện đầy đủ, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyềnvà nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Y ly hôn với anh V, giao con chung cho chị Y nuôi dưỡng.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Y khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh V cư trú tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Tòa án xác định đây là vụ án về ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.

Chị Y, anh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt, chị Y có đơn xin vắng mặt, anh V vắng mặt không lý do. Tòa án quyết định giải quyết vắng mặt chị Y, anh V theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự,

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của chị Y thấy rằng:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, giấy chứng nhận kết hôn thấy rằng: Chị Y, anh V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước vào năm 2015. Đây là hôn nhân hợp pháp. Theo chị Y thì hai vợ chồng sống hạnh phúc được 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên thường xuyên cãi nhau khiến cuộc sống không hạnh phúc. Từ năm 2018 cả hai đã không còn sống chung, không có sự quan tâm, lo lắng cho nhau. Lời khai của chị Y phù hợp với biên bản xác minh ngày 18/4/2023. Như vậy mâu thuẫn giữa các bên đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, không cần thiết kéo dài cuộc hôn nhân này. Chị Y yêu cầu ly hôn là có căn cứ, được chấp nhận.

Về con chung: Chị Y, anh V có 01 con chung tên Phạm Khánh V1, sinh năm 2015. Khi ly hôn, chị Y yêu cầu được nuôi con chung. Xét thấy, hiện nay cháu V2 đang ở với chị Y, do chị Y chăm sóc, cháu V2 có nguyện vọng muốn được ở chung với chị Y. Anh V không thể hiện nguyện vọng muốn nuôi con. Để đảm bảo quyền lợi cho con chung, cần giao cháu V2 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Yêu cầu về phần này của chị Y là có căn cứ, được chấp nhận.

Về tài sản chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[3] Về án phí:

Nguyên đơn chị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

[1]. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 39 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

[2]. Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Xuân Y và anh Phạm Triều V.

Giấy chứng nhận kết hôn số 73/2015 ngày 18/8/2015 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước hết hiệu lực pháp luật khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Giao con chung Phạm Khánh V2, sinh ngày 05/7/2015 cho chị Lê Thị Xuân Y trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng, xin thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu có căn cứ cho rằng bên kia không đáp ứng được quyền lợi của con.

Về tài sản chung: Đương sự khai không có nên không xem xét giải quyết

Về nợ chung: Đương sự khai không có nên không xem xét giải quyết

5. Về án phí: Chị Lê Thị Xuân Y phải chịu án phí hôn nhân là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị Y đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0014534 ngày 20/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bình Phước.

5. Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ