- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Tuyết M đối với anh Lương Công L.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H TỈNH T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30-6-2023 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH T
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Ly
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Xuân Phong;
2. Ông Trần Văn Thạch.
- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Ngọc Lan – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T tham gia phiên tòa: ông Phan Thanh Nhã – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1971; địa chỉ: số nhà 16, tổ 3, đường N, ấp N, xã Trường Đ, thị xã H, tỉnh T (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: anh Lương Công L, sinh năm 1970; địa chỉ: số nhà Ô2/131 ấp T, xã Trường Đ, thị xã H, tỉnh T (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết M trình bày:
Chị và anh Lương Công L chung sống với nhau từ năm 1997, do tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chị chung sống thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không phù hợp, vợ chồng thường xuyên gây gỗ, nên cuộc sống chung vợ chồng không còn hạnh phúc, hai vợ chồng đã ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài nên nay chị yêu cầu ly hôn với Anh L.
Về con chung: anh chị có 01 con chung tên Lương Cao S, sinh năm 2000, con chung đã thành niên tự lao động nuôi sống bản thân được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ý kiến và yêu cầu của bị đơn anh Lương Công L:
Anh L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Tuyết M đối với anh Lương Công L. Về con chung: Chị M Anh L có 01 con chung đã thành niên, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung Chị M không yêu cầu nên không giải quyết.
Chị M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: chị Nguyễn Thị Tuyết M có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Lương Công L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại các Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị M và Anh L chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn vào năm 1997 tại Uỷ ban nhân dân xã Trường Đ, thị xã H, tỉnh T nên hôn nhân của Chị M, Anh L là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Theo Chị M thì hôn nhân của anh chị có nhiều mâu thuẫn, không có tiếng nói chung và anh chị đã ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Anh L đã được toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt thể hiện không có thiện chí muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng với Chị M. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết M, Chị M được ly hôn với anh Lương Công L.
Về con chung: Chị M, Anh L có 01 con chung tên Lương Cao S, sinh năm 2000, con chung đã thành niên tự lao động sinh sống được, do đó Chị M không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị M, Anh L không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T là phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 9, 51, 53, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Tuyết M đối với anh Lương Công L.
2. Về con chung: Chị M, Anh L có một con chung tên Lương Cao S, sinh năm 2000 đã thành niên nên Chị M, Anh L không yêu cầu giải quyết.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị M, Anh L không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Nguyễn Thị Tuyết M phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Tuyết đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0021305 ngày 20 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H, tỉnh T, Chị M đã nộp xong án phí.
Án dân sự sơ thẩm xử công khai báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh T trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh T; - VKSND thị xã H; - Chi cục THADS thị xã H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |