vanban.org

Bản án 44/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Yến N.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Yến N ly hôn anh Phạm Hồng Q. Về con chung: Giao con chung là Phạm Nguyễn Đăng K, sinh ngày 28/4/2023 cho chị Nguyễn Thị Yến N trực tiếp trôm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Yến N.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK MIL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 44/2023/HNGĐ-ST
Ngày 24-8-2023
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Đình Hội.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thanh và ông Phan Sỹ Phác.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Đinh Thế Toàn là Thư ký TAND huyện Đắk Mil.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên tòa: Bà Lê Thu Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 84/2023/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 4 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 18 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện M, tỉnh Đắk Nông. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Anh Phạm Hồng Q, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện M, tỉnh Đắk Nông. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 31/3/2023, bản tự khai, biên bản lấy lời khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Yến N trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Yến N và anh Phạm Hồng Q kết hôn năm 2022 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện M. Sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân giữa chị N và anh Q không hạnh phúc, thường nảy sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, không yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, anh Q sống không chung thủy. Từ những lý do trên dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh Q ngày một trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, hiện nay không còn sống chung với nhau nên không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa. Vì vậy, chị N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Q.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống chị N và anh Q có 01 con chung là Phạm Nguyễn Đăng K, sinh ngày 28/4/2023, do con còn nhỏ nên chị N có nguyện vọng muốn được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến khi đủ 18 tuổi.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu anh Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 30/5/2022 bị đơn là anh Phạm Hồng Q bày:

- Về hôn nhân: Anh Phạm Hồng Q và chị Nguyễn Thị Yến N kết hôn năm 2022 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện M. Anh Q thừa nhận việc sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân giữa anh Q và chị N không hạnh phúc, thường nảy sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, không yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, nguyên nhân là do anh Q vì công việc và không chung thủy. Tuy nhiên, anh Q không đồng ý yêu cầu ly hôn của chị N và mong muốn đoàn tụ gia đình vì anh Q cho rằng mẫu thuẫn giữa anh và chị N chưa đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng vẫn còn.

Về con chung: Anh Q thừa nhận anh và chị N có 01 con chung là Phạm Nguyễn Đăng K, sinh ngày 28/4/2023.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, HĐXX và Người tham gia tố tụng:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Đã chấp hành đầy đủ theo quy định của pháp luật từ quá trình thụ lý, lập hồ sơ vụ án Thẩm phán đã tiến hành đúng theo quy định của pháp luật. Xác định đúng quan hệ tranh chấp giữa các bên; tiến hành thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ đến các đương sự. Thẩm phán đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo quy định. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng mọi thủ tục, trình tự xét xử theo đúng quy định. Hội đồng xét xử đúng thành phần, thực hiện đúng theo quy định, không có trường hợp nào phải thay đổi người tiến hành tố tụng, Hội đồng xét xử đã hỏi và thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.

Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ các quy định, quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Bị đơn không chấp hành đầy đủ các quy định, quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích các tình tiết của vụ án Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về con chung giao con chung là Phạm Nguyễn Đăng K, sinh ngày 28/4/2023 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục đến khi đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị N không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Yến N phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

1.1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Yến N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và quyền nuôi con chung khi ly hôn nên quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn là anh Phạm Hồng Q có nơi cư trú tại Thôn H, xã S, huyện M, tỉnh Đắk Nông. Vì vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyên Đắk Mil.

1.2. Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt, tuy nhiên nguyên đơn đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

. Về nội dung:

2.1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Yến N và anh Phạm Hồng Q kết hôn năm 2022 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đắk Sắk theo Giấy chứng nhận kết hôn số 118/2022, ngày 29/9/2022. Như vậy, theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình thì quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh Q là hợp pháp.

Xét lý do chị N yêu cầu ly hôn anh Q là vì sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh Q không hạnh phúc, thường nảy sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, không yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống và tính cách không hòa hợp, anh Q sống không chung thủy. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị và anh Q ngày càng trở lên trầm trọng, hiện nay đã không còn sống chung với nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn.

Hội đồng xét xử thấy rằng vợ chồng chung sống có hạnh phúc phải dựa trên sự yêu thương, tôn trọng, phải chung sống với nhau để cùng nhau quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, phải có sự hòa hợp chia sẻ với nhau mọi vấn đề trong cuộc sống. Tuy nhiên, sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân giữa chị N và anh Q thường nảy sinh mâu thuẫn, anh Q sống không chung thủy, không yêu thương chăm sóc, giúp đỡ chị N. Hiện nay chị N và anh Q đã không còn sống chung với nhau điều này thể hiện hôn nhân giữa chị N và anh Q không thể hàn gắn được, mâu thuẫn đã trở lên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận cho chị N ly hôn anh Q là phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

2.2. Về con chung: Đối với con chung là Phạm Nguyễn Đăng K, sinh ngày 28/4/2023, chị N có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung đến khi đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử thấy rằng con chung Phạm Nguyễn Đăng K, sinh ngày 28/4/2023 (dưới 36 tháng tuổi) nên giao con chung cho chị N được trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi là cần thiết, đảm bảo được các quyền lợi cho con chung và phù hợp khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu anh Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị Yến N và anh Phạm Hồng Q có các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

2.3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về án phí : Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị Yến N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Yến N.

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Yến N ly hôn anh Phạm Hồng Q.

2. Về con chung: Giao con chung là Phạm Nguyễn Đăng K, sinh ngày 28/4/2023 cho chị Nguyễn Thị Yến N trực tiếp trôm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.

2.1. Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Nguyễn Thị Yến N không yêu cầu anh Phạm Hồng Q cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2.2. Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị Yến N và anh Phạm Hồng Q có các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

- Quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định tại khoản 1 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

- Nghĩa vụ, quyền của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.

- Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

- Quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Yến N phải nộp số tiền 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị N đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện M theo biên lai số 0007217, ngày 06 tháng 4 năm 2023.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ