- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Rơ Mah T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PR TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2023/HNGĐ- ST Ngày 22/11/2023 V/v:“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PR, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khả Th.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Công Ch;
2. Ông Nguyễn Ngọc B.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy N - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Bích N– Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự, thụ lý số: 105/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2023.Về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2023/QĐXXST- HNGĐ, ngày 05 tháng 10 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 41/2023/QĐST- HNGĐ, ngày 24 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Rơ Mah T, sinh năm 1999 Địa chỉ: Làng Gòong, xã Ia Púch, huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai. (Có mặt).
- Bị đơn: Anh Hà Đức Ng, sinh năm 1994 Địa chỉ: Làng Gòong, xã Ia Púch, huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, cùng tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Rơ Mah T trình bày: Chị và anh Hà Đức Ng tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ia Púch, huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai, ngày: 22/5/2020. Cuộc sống hôn nhân bước đầu hạnh phúc được hai năm thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh Ng là người ham chơi không lo làm ăn, anh Ng thường xuyên chơi cờ bạc, cá độ dẫn đến nợ nần nhiều, chị T cũng đã nhiều lần tha thứ khuyên nhủ anh Ng bỏ, nhưng anh Ng vẫn chứng nào tật nấy không hề thay đổi, cứ hết lần này tới lần khác chị phải đứng ra trả nợ giúp anh, anh Ng còn mang cả xe máy đi cầm cố thế chấp cà vẹc xe để lấy tiền chơi cờ bạc, chị T đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh Ng vẫn chứng nào tật nấy không thay đổi mà ngày một tệ bạc với chị thậm chí còn xúc phạm chị và có hành vi bạo lực gia đình nhiều lần đối với chị, hiện tại chị T và anh Ng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2022 đến nay, chị T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hà Đức Ng; Về con chung: Chị và anh Hà Đức Ng có 02 (hai) con chung tên là: Rơ Mah Hà Khánh Duy, sinh ngày 29/7/2016 và Rơ Mah Hà Hải Băng, sinh ngày 22/4/2020 chị mong muốn được tiếp tục nuôi dưỡng cả con chung và không yêu cầu anh Ng phải cấp dưỡng tiền nuôi con hàng tháng; Về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn anh Hà Đức Ng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Hà Đức Ng không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của chị Rơ Mah T, anh Ng cũng không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra chứng cứ và phiên hòa giải. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pr tham gia phiên tòa – bà Mai Thị Bích N có ý kiến phát biểu như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:
+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các đương sự, chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
+ Thành phần Hội đồng xét xử: Các thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đều có mặt đầy đủ theo đúng thành phần, không có sự thay đổi thành phần của Hội đồng xét xử.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
+ Đối với các đương sự:
Nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn: Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các nội dung được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự về nội quy phiên tòa.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Rơ Mah T và xử ly hôn giữa chị Rơ Mah T và anh Hà Đức Ng. Về con, đề nghị Hội đồng xét giao 02 (hai) con chung tên là: Rơ Mah Hà Khánh Duy, sinh ngày 29/7/2016 (như nguyện vọng của con) và Rơ Mah Hà Hải Băng, sinh ngày 22/4/2020 cho chị Rơ Mah T tiếp tục, trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Hà Đức Ng được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở; Về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí, nguyên đơn là chị Rơ Mah T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Rơ Mah T khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai giải quyết cho ly hôn với anh Hà Đức Ng, đây là vụ án tranh chấp về ly hôn. Anh Hà Đức Ng có nơi cư trú tại: Làng Gòong, xã Ia Púch, huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai. Anh Hà Đức Ng vắng mặt tại phiên toà, Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử và tiến hành tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập hợp lệ cho anh Hà Đức Ng lần thứ nhất nhưng anh Ng vắng mặt không có lý do. Tòa án có quyết định hoãn phiên Tòa và tiến hành triệu tập hợp lệ anh Hà Đức Ng lần thứ 2, nhưng anh Ng vắng mặt không có lý do nên Toà án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Ng là phù hợp với điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử nhận thấy giữa chị Rơ Mah T và anh Hà Đức Ng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ia Púch, huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai, ngày: 22/5/2020 hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật, không bị lừa dối, ép buộc, không vi phạm điều kiện kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của chị Rơ Mah T Hội đồng xét xử thấy rằng: Giữa chị Rơ Mah T và anh Hà Đức Ng có xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, anh Ng không có ý chí phấn đấu để xây dựng hạnh phúc gia đình, anh Ng cũng không quan tâm tới vợ con, hiện tại giữa chị Rơ Mah T và anh Hà Đức Ng đã sống ly thân, nhận thấy anh Hà Đức Ng không có ý chí để hàn gắn và hòa giải, đồng thời thôn trưởng là ông Nguyễn Xuân Đô xác nhận giữa chị Rơ Mah T và anh Hà Đức Ng hiện đã không còn chung sống để xây dựng hạnh phúc gia đình, bởi vậy đời sống chung của vợ chồng không được kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị Rơ Mah T xin ly hôn là có căn cứ, do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Rơ Mah T là phù hợp.
Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa chị Rơ Mah T và anh Hà Đức Ng có 02 (hai) con chung tên là: Rơ Mah Hà Khánh Duy, sinh ngày 29/7/2016 và Rơ Mah Hà Hải Băng, sinh ngày 22/4/2020 hiện cả hai con chung đang được chị T nuôi dưỡng trực tiếp, hiện cả hai cháu đều khoẻ mạnh và học hành đầy đủ, tại biên bản ghi ý kiến con chưa thành niên ngày 21 tháng 9 năm 2023 (bút lục số 65) cháu Duy có nguyện vọng được ở với mẹ là chị Rơ Mah T, xét nguyện vọng của con chung là hoàn toàn tự nguyện và chính đáng và cháu Rơ Mah Hà Hải Băng, sinh ngày 22/4/2020 hiện đang còn nhỏ chị T cũng có nguyện vọng tha thiết được nuôi dưỡng cả hai con chung, vậy nên giao 02 (hai) con chung tên là: Rơ Mah Hà Khánh Duy, sinh ngày 29/7/2016 (như nguyện vọng của con) và Rơ Mah Hà Hải Băng, sinh ngày 22/4/2020 cho chị Rơ Mah T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng trực tiếp đến tuổi thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật mất năng lực hành vi dân sự không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình là phù hợp.
Anh Hà Đức Ng có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở việc thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của các đương sự hoặc của các cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về việc cấp dưỡng tiền nuôi con, chị Rơ Mah T không yêu cầu nên Tòa án không đặt vấn đề giải quyết.
Về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt vấn đề giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn là chị Rơ Mah T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong việc giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 195; Điều 220; khoản 1 Điều 228; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Rơ Mah T.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Rơ Mah T và anh Hà Đức
Ng.
2.Về nuôi con: Giao 02 (hai) con chung tên là: Rơ Mah Hà Khánh Duy, sinh ngày 29/7/2016 (như nguyện vọng của con) và Rơ Mah Hà Hải Băng, sinh ngày 22/4/2020 cho chị T được quyền tiếp tục chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật mất năng lực hành vi dân sự, không có có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của các đương sự hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3.Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Rơ Mah T không yêu cầu nên Tòa án không đặt vấn đề giải quyết.
4.Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Chị Rơ Mah T không yêu cầu nên Tòa án không đặt vấn đề giải quyết.
5. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Rơ Mah T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0005005, ngày 20 tháng 4 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Pr, tỉnh Gia Lai. Chị Rơ Mah T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 22/11/2023, các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng bị đơn anh Hà Đức Ng được quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
Người được thi hành án dân sự và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; -VKSND huyện Chư Pr; - Chi cục THADS huyện Chư Pr; - Các đương sự; - Ủy ban nhân dân xã Ia Púch; - Lưu hồ sơ vụ án. CÁC VỊ HỘI THẨM NHÂN DÂN TRẦN THỊ ĐỨC BẾ THỊ HỢI | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Khả Thế THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ KHẢ THẾ |