- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kiều T - Tang Hsiao C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11/4/2023 V/v "Tranh chấp ly hôn". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bảo Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Kim Hiếu
Bà Nguyễn Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phong Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Phi - Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 89/2022/TLST-HN ngày 27 tháng 5 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Số 00 ấp T, xã T, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông Tang Hsiao C, sinh năm 1969.
Địa chỉ: Số 00, Lầu 2, Lộ H, Khóm 00, phường T, thành phố Mã Công, huyện Bành Hồ, Đài Loan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 06/5/2022 và bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều T trình bày và yêu cầu:
Bà và ông Tang Hsiao C đăng ký kết hôn vào năm 2018 tại Ủy ban huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ (Việt Nam). Sau khi kết hôn, ông Tang Hsiao C về Đài Loan và có làm giấy bảo lãnh cho bà để sang Đài Loan định cư nhưng không được và sau đó, do dịch bệnh Covid-19 bùng phát nên bà và ông Tang Hsiao C không liên lạc được với nhau cho đến nay. Do tình cảm không còn, vì vậy, bà xin được ly hôn với ông Tang Hsiao C.
Về con chung, tài sản và nợ chung: Bà Kiều T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Tang Hsiao C vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi về việc bà Kiều T xin ly hôn với ông.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:
Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, qua xem xét các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị Kiều T được ly hôn với ông Tang Hsiao C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Kiều T khởi kiện xin ly hôn với ông Tang Hsiao C cư trú tại Đài Loan, căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
Bà Kiều T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn ông Tang Hsiao C đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt (thủ tục thông báo, tống đạt của Tòa án đối với phía bị đơn đã hoàn tất, tại văn bản số 1110061405 ngày 05/10/2022 của Bộ Tư Pháp Lãnh thổ Đài Loan: "Cơ quan có thẩm quyền của lãnh thổ Đài Loan đã thực hiện ủy thác tư pháp nêu trên vào ngày 16/9/2022 bằng phương thức: Gởi hồ sơ ủy thác tư pháp tại đồn Công an”. Tuy nhiên cho đến thời điểm xét xử, ông Tang Hsiao C cũng không có ý kiến phản hồi. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là có căn cứ.
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kiều T và ông Tang Hsiao C xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 84 ngày 03/7/2018 nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo bà Kiều T trình bày, sau khi kết hôn ông Tang Hsiao C về Đài Loan và có làm giấy bảo lãnh bà sang Đài Loan định cư nhưng không được và sau đó, do dịch bệnh Covid-19 bùng phát nên bà và ông Tang Hsiao C không liên lạc được với nhau, kéo dài cho đến nay.
Xét thấy, giữa bà Kiều T và ông Tang Hsiao C sau khi kết hôn, chỉ chung sống thời gian ngắn. Sau khi ông Tang Hsiao C trở về Đài Loan thì không còn liên lạc gì với bà Kiều T và cũng không có ý kiến phản hồi gì về việc bà Kiều T xin ly hôn với ông sau khi Tòa án đã thực hiện ủy thác tư pháp. Điều này chứng tỏ, ông Tang Hsiao C không muốn duy trì quan hệ hôn nhân, đồng thời tình cảm mà bà Kiều T dành cho ông cũng không còn nên mối quan hệ hôn nhân giữa hai người đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà Kiều T được ly hôn với ông Tang Hsiao C là phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Kiều T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng và lệ phí ủy thác là 200.000 đồng, nguyên đơn phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, khoản 4, Điều 147, Điều 153, khoản 2 Điều 227, khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Kiều T được ly hôn với ông Tang Hsiao C.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kiều T trình bày không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kiều T phải chịu 300.000 đồng, được chuyển số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà Kiều T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000273 ngày 23/5/2022 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ sang án phí, bà Kiều T đã nộp đủ án phí.
3. Về lệ phí ủy thác: Bà Kiều T phải chịu, công nhận đã nộp xong 200.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000286 ngày 01/6/2022 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
4. Về quyền kháng cáo:
Bà Nguyễn Thị Kiều T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết.
Ông Tang Hsiao C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo luật định./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND TPCT; - Cục THA DS TPCT; - UBND H Thới Lai; - Lưu hồ sơ vụ án | (Đã ký) Võ Bảo Anh |