vanban.org

Bản án 44/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lo Văn L được ly hôn chị Kim Thị Ch.

Về con chung: Giao con chung Lo Bảo Ng, sinh ngày 25/01/2009 và Lo Bảo Ch, sinh ngày 29/6/2011 cho anh Lo Văn L trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 4/2023 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Kim Thị Ch. Bên không trực tiếp nuôi con có q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Lo Văn L - Kim Thị Ch"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Lo Văn L được ly hôn chị Kim Thị Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ HỢP
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2023/HNGĐ-ST
Ngày 26/4/2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con,
chia tài sản khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hà Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Văn Hậu

Bà Nguyễn Thị Hường

Thư ký phiên toà: Bà Kim Thị Mai – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Hào – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 198/2022/TLST – HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lo Văn L. Sinh năm 1984 Nơi cư trú: Xóm Ch, xã Ch, huyện Q, tỉnh Nghệ An

(Có mặt)

Bị đơn: Chị Kim Thị Ch. Sinh năm 1985 Nơi cư trú: Xóm Ch, xã Ch, huyện Q, tỉnh Nghệ An

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và tại biên bản ghi lời khai nguyên đơn anh Lo Văn L trình bày: Anh và chị Kim Thị Ch kết hôn vào ngày 01/12/2008, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Châu Lý, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống với nhau khá hòa thuận, tuy nhiên vì điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên từ năm 2013 chị Ch phải đi làm ăn xa, cho đến năm 2018 thì không liên lạc về với gia đình nữa. Gia đình đã tìm kiếm chị Ch nhiều nơi và bằng nhiều hình thức nhưng không có kết quả. Ngày 28/9/2022 Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An ra Quyết định tuyên bố chị Ch mất tích và từ đó đến nay gia đình anh cũng không nhận được bất kỳ tin tức gì của chị Ch, do đó anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh và chị Ch được ly hôn.

Anh L và chị Ch có 02 con chung là Lo Bảo Ng, sinh ngày 25/01/2009 và Lo Bảo Ch, sinh ngày 29/6/2011. Từ trước đến nay con chung sống cùng anh L, do anh L trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó anh L yêu cầu được giao nuôi con khi vợ chồng ly hôn, anh L không yêu cầu chị Chai phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh L và chị Ch không có tài sản chung, do đó anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Đối với bị đơn chị Kim Thị Ch, ngày 28/9/2022 Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An ra Quyết định tuyên bố chị Ch mất tích và từ đó đến nay vẫn không có tin tức gì về chị Ch. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ kiện, chị Ch không có mặt để lấy lời khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hòa giải và phiên tòa. Do đó có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh L theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Đại diện Viên kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa thấy rằng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, xử: Về quan hệ hôn nhân: Cho anh L được ly hôn chị Ch; Về con chung: Giao con chung Lo Bảo Ng, sinh ngày 25/01/2009 và Lo Bảo Ch, sinh ngày 29/6/2011 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Chai. Về tài sản: Anh L không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét; Về án phí: Anh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Quan hệ pháp luật được xác định trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Kim Thị Ch có hộ khẩu thường trú tại xóm Ch, xã Ch, huyện Q, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Hôn nhân của anh L, chị Ch là hôn nhân hợp pháp, đảm bảo về điều kiện kết hôn và được đăng ký theo quy định. Sau khi kết hôn, anh L và chị Ch chung sống khá hòa thuận, tuy nhiên từ năm 2013 chị Ch đi làm ăn xa, cho đến năm 2018 thì không trở về địa phương nơi cư trú nữa. Gia đình đã tìm kiếm chị Ch nhiều nơi và bằng nhiều hình thức nhưng không có kết quả. Ngày 28/9/2022 Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An ra Quyết định tuyên bố chị Ch mất tích. Do đó có căn cứ chấp nhận yêu cầu của anh L, cho anh L được ly hôn chị Ch theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Con chung của anh L, chị Ch là cháu Bảo Ng và cháu Bảo Ch. Từ trước đến nay các con chung sống cùng anh L, do anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh L nhà ở, có việc làm, thu nhập ổn định, có các điều kiện đảm bảo cho việc học tập, giáo dục con phát triển lành mạnh, cháu Bảo Ng và Bảo Ch cũng có nguyện vọng được sống với bố. Do đó căn cứ quyền lợi mọi mặt của các con chung, chấp nhận yêu cầu của anh L, giao cháu Bảo Ng và Bảo Ch cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Ch.

Về tài sản: Chị Th không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chị Kim Thị Ch – bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp tuyên bố mất tích, quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, chị Chai không có mặt để lấy lời khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hòa giải và phiên tòa. Do đó căn cứ vào khoản 3 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt chị Ch.

Về án phí: Anh Lo Văn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lo Văn L được ly hôn chị Kim Thị Ch.

Về con chung: Giao con chung Lo Bảo Ng, sinh ngày 25/01/2009 và Lo Bảo Ch, sinh ngày 29/6/2011 cho anh Lo Văn L trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 4/2023 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Kim Thị Ch.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về án phí: Anh Lo Văn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ trong số tiền tạm ứng án phí 300.000,đ anh Lo Văn L đã nộp theo biên lai thu số 0007024 ngày 22/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- TAND tỉnh Nghệ An

- VKSND huyện Quỳ Hợp;

- THADS huyện Quỳ Hợp;

- UBND xã Châu Lý;

- Lưu hồ sơ.

Trương Thị Thu Hà

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các Hội thẩm nhân dân

Chủ tọa phiên toà Vi Văn Hậu Nguyễn Thị Hường

Trương Thị Thu Hà

Cỡ chữ