- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Kỳ - Thúy"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Phạm Cao K và chị Nguyễn Thị TH là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; luật Hộ tịch
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2023/HNGĐ-ST Ngày 26-6-2023 V/v không công nhận vợ chồng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Cường Huy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Phương và bà Lê Thị Chung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Vui – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông K’Dem – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 92/TLST-HNGĐ ngày 16/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh về việc “không công nhận vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 24/4/2023 của Tòa án huyện Di Linh giữa các đương sự:
- Nguyên đơn anh Phạm Cao K; sinh ngày 09/3/1987, có mặt.
Địa chỉ: Thôn CC, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị TH; sinh ngày 25/5/1992, vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn SS, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh K trình bày như sau:
Anh và chị Nguyễn Thị TH có tổ chức lễ cưới sống chung như vợ chồng từ năm 2009 tại Thôn 4 xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định. Từ trước đến nay anh K cũng chưa từng đăng ký kết hôn với ai. Từ đầu năm 2020 anh chị phát sinh mâu thuẫn, do khó khăn về kinh tế và có sự khác biệt về quan điểm sống. Anh chị không còn yêu thương lo lắng cho nhau. Chị TH đã về nhà bố mẹ đẻ tại thôn 8 xã Hòa Nam, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng ở. Nay anh K yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng không công nhận vợ chồng giữa anh và chị Nguyễn Thị TH.
Trong thời gian sống chung, anh chị có 02 con chung tên Phạm Thị Ngọc Anh; sinh ngày 20/10/2017 và Phạm Hoàng Anh; sinh ngày 22/01/2010. Khi Tòa án giải quyết không công nhận vợ chồng, anh K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Hoàng Anh; giao cháu Phạm Thị Ngọc Anh cho chị Nguyễn Thị TH trực tiếp nuôi dưỡng. Anh K đồng ý cấp dượng nuôi con theo mức 2.000.000đ/01 tháng. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 4/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị TH không phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay anh K làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, khoản 8.000.000đ/01 tháng, ngoài ra không có thu nhập nào khác.
Anh chị tự thỏa thuận về tài sản chung, Tài sản riêng của mỗi người tự quản lý. Anh chị không yêu cầu tòa án giải quyết về phần tài sản. Anh K tự nguyện chịu án phí Tòa án theo quy định. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu là có căn cứ và hợp pháp: Giấy khai sinh của con.
Chị TH trình bày: Việc sống chung, nguyên nhân mâu thuẫn như anh K trình bày là đúng. Anh chị chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Bản thân chị TH cũng chưa đăng ký kết hôn với ai cả. Do anh chị đã không còn chung sống với nhau từ năm 2016, nay đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận vợ chồng giữa chị và anh Phạm Cao K.
Về con chung như anh K trình bày là đúng. Khi Tòa án giải quyết không công nhận vợ chồng, chị TH yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Thị Ngọc Anh, anh K có trách nhiện cấp dưỡng nuôi con theo mức 2.000.000đ/01 tháng. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 4/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Giao cháu Phạm Hoàng Anh cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng, chị TH không phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay cháu Phạn Thị Ngọc Anh đanh ở với chị TH, cháu Phạm Hoàng Anh đang ở với anh K. Chị TH cam kết không có con chung, không có con riêng nào khác, sức khỏe bình thường, không thai nghén gì cả.
Anh chị tự thỏa thuận về tài sản chung, Tài sản riêng của mỗi người tự quản lý. không yêu cầu tòa án giải quyết về phần tài sản. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu là có căn cứ và hợp pháp: Giấy chứng nhận kết hôn.
Các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập: Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đã tiến hành ghi lời khai của anh K và chị TH, đồng thời đã xác minh tình trạng hôn nhân của các đương sự tại Công an xã Hòa Nam, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng và Công an xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng làm căn cứ giải quyết. Kết quả xác minh, qua thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư cho thấy tình trang hôn nhân của chị TH và anh K đều là chưa kết hôn.
Tại phiên tòa
Anh K giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không bổ sung thay đổi gì, tự nguyện chịu án phí theo quy định. Ngoài ra anh K còn trình bày. Đối với 02 giấy khai sinh của 02 con chung đã nộp cho Tòa án thì khi đi làm giấy khai sinh cho con, anh có khai đã đăng ký kết hôn, tuy nhiên không có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn để nộp cho cán bộ tư pháp, việc cấp giấy khai sinh nói trên có đúng quy định hay không thì anh không biết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, nhận thấy Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự sự năm 2015.
Về nội dung tranh chấp: Căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Đề nghị:
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh K và chị TH.
- Về con chung: Giao cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Hoàng Anh; sinh ngày 22/01/2010. Giao cháu Phạm Thị Ngọc Anh; sinh ngày 20/10/2017 cho chị Nguyễn Thị TH trực tiếp nuôi dưỡng. Anh K cấp dượng nuôi con theo mức 2.000.000đ/01 tháng. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 4/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị TH không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không đề cập giải quyết.
- Về án phí: Anh Phạm Cao K phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con định K .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Chị Nguyễn Thị TH có nơi đăng ký thường trú tại huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, tranh chấp về việc yêu cầu không công nhận vợ chồng và giao con chung. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Di Linh có thẩm quyền giải quyết là đúng quy định. Về việc vắng mặt chị TH, Tòa án đạt tống đạt hợp hệ các thông báo, Quyết định và giấy triệu tập. Tuy nhiên chị TH vắng mặt lần thứ hai không lý do. Căn cứ Điều 227 và 228 của bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.
Nội dung tranh chấp.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Cao K và chị Nguyễn Thị TH có tổ chức lễ cưới sống chung như vợ chồng từ năm 2009 tại Thôn 4 xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định. Theo thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Công an xã Hòa Nam và Công an xã Lộc Nam là nơi anh K chị TH đăng ký thường trú đều xác định tình trạng hôn nhân của anh Phạm Cao K và chị Nguyễn Thị TH là chưa kết hôn. Từ đầu năm 2020 anh chị phát sinh mâu thuẫn, do khó khăn về kinh tế và có sự khác biệt về quan điểm sống. Anh chị không còn yêu thương lo lắng cho nhau. Chị TH đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại thôn 8 xã Hòa Nam, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng sinh sống. Anh K yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng không công nhận vợ chồng, chị TH cũng đồng ý. Nhận thấy, việc sống chung của anh K và chị TH đã không tuân thủ theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên không có giá trị về mặt pháp lý. Căn cứ khoản 1 Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình 2014, Hội đồng xét xử xem xét không công nhận anh Phạm Cao K và chị Nguyễn Thị TH là vợ chồng, là phù hợp.
Về Nuôi con chung: Qua xem xét sự thỏa thuận của các đương sự và tránh việc làm xáo trộn thay đổi môi trường sống của các con chung, Hội đồng xét xử cần giao cho anh Phạm Cao K trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Hoàng Anh; sinh ngày 22/01/2010. Giao cháu Phạm Thị Ngọc Anh; sinh ngày 20/10/2017 cho chị Nguyễn Thị TH trực tiếp nuôi dưỡng. Anh K cấp dượng nuôi con theo mức 2.000.000đ/01 tháng. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 4/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị TH không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.
Về phần tài sản: Anh K và chị TH tự thỏa thuận về tài sản chung, Tài sản riêng của mỗi người tự quản lý, không yêu cầu tòa án giải quyết về phần tài sản. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết về phần tài sản là đúng quy định.
Về Án phí: Anh Phạm Cao K phải chịu án phí theo quy định.
Các vấn đề khác. Căn cứ Điều 9 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, ngày 15/11/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật Hộ tịch. Kiến nghị UBND xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng xem xét về tính hợp pháp của giấy khai sinh đã cấp cho cháu Phạm Thị Ngọc Anh; sinh ngày 20/10/2017, số 313/2017 ngày 02/11/2017 và giấy khai sinh đã cấp cho cháu Phạm Hoàng Anh; sinh ngày 22/01/2010, số 92/2010 ngày 21/10/2010 của UBND xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
Quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 4, 5, 6, Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 235; Điều 262, 264, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, 16 và khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Phạm Cao K và chị Nguyễn Thị TH là vợ chồng.
Về con chung: Giao cho anh Phạm Cao K trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Hoàng Anh; sinh ngày 22/01/2010. Giao cháu Phạm Thị Ngọc Anh; sinh ngày 20/10/2017 cho chị Nguyễn Thị TH trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Phạm Cao K cấp dưỡng nuôi con theo mức 2.000.000đ/01 tháng (hai triệu đồng trên một tháng). Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 4/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị TH không phải cấp dưỡng nuôi con. Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Không đề cập giải quyết.
Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Phạm Cao K phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, và 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con định ký, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã tạm nộp án phí theo biên lai số 0007175 ngày 16/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Anh Phạm Cao K còn phải nộp 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm cấp dưỡng nuôi con định K.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Anh Phạm Cao K có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị TH vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Di Linh; - Chi cục THADS huyện Di Linh; - VPĐKĐĐ huyện Di Linh; - UBND xã Lộc Nam; - UBND xã Hòa Nam; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ vụ án, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Bá Cường Huy |