- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hụi, họ, biêu, phường"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƢỚC TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2023/DS-ST Ngày: 19-5-2023 “V/v tranh chấp nợ hụi và đòi lại tài sản” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƢỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Kiệt
Các vị Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Ngọc Ngươl
Ông Nguyễn Quốc Trung
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Khải là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Ngày 19 tháng 5 năm 2023 tại Toà án nhân dân huyện Cái Nước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2023/TLST-DS ngày 08 tháng 02 năm 2023. Về việc “Tranh chấp nợ hụi và đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Ngọc Đ, sinh năm 1976 (Có mặt).
Cư trú: ấp T, xã T, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Bà Lê Thúy C - Sinh năm 1983 (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn Y – Sinh năm 1982 (Vắng mặt).
Cùng trú: ấp Đ, xã P, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn bà Võ Ngọc Đ trình bày: Vào ngày 02/4/2020 âm lịch hai vợ chồng bà C, ông Y có mở 02 dây hụi, loại hụi 2.000.000 đồng, mỗi tháng khui hụi 01 lần, mỗi dây hụi gồm có 30 chân, bà Võ Ngọc Đ tham gia chơi 02 chân. Đến ngày 12/4/2021 âm lịch bà C và ông Y tuyên bố bãi hụi. Bà đã đóng đủ tiền hụi cho bà C và ông Y từ khi mở hụi đến khi tuyên bố bãi hụi. Ngày 16/4/2020 âm lịch hai vợ chồng bà C, ông Y cũng có mở 01 dây hụi, loại hụi 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui hụi 01 lần, mỗi dây hụi gồm có 35 chân, bà Võ Ngọc Đ tham gia chơi 01 chân. Đến ngày 12/4/2021 âm lịch bà C và ông Y tuyên bố bãi hụi. Bà đã đóng đủ tiền hụi cho bà C và ông Y từ khi mở hụi đến khi tuyên bố bãi hụi. Sau khi bãi hụi bà C và ông Y có đến gặp bà để kết toán nợ thì số nợ bà C, ông Y còn nợ hụi bà tổng số tiền 100.000.000 đồng.
Đồng thời, ngày 26/8/2020 âm lịch bà Võ Ngọc Đ cũng có mở 01dây hụi, loại hụi 2.000.000 đồng, mỗi tháng khui hụi 01 lần, mỗi dây hụi gồm có 30 chân, bà Lê Thúy C và ông Lê Văn Y tham gia chơi 01 chân. Đến tháng 01 năm 2021 âm lịch bà C và ông Y đã hốt hụi được 42.000.000 đồng, bà đã giao đủ tiền hụi cho bà C và ông Y nhưng đến tháng 10 năm 2021 bà C và ông Y không đóng hụi chết nữa nên bà phải bỏ tiền ra đóng hụi chết thay cho bà C và ông Y. Số tiền hụi bà C và ông Y còn thiếu lại bà là 35.000.000 đồng. Ngoài ra, bà C và ông Y có mượn của bà 6.000.000 đồng để sử dụng vào mục đích sinh hoạt chung trong gia đình. Ngày 30/12/2022 âm lịch bà C và ông Y có đến gặp bà để kết toán nợ thì số nợ bà C, ông Y còn nợ bà tổng số tiền 141.000.000 đồng, có làm tờ thừa nhận và giấy xác nhận tiền nợ. Bà đã nhiều lần yêu cầu bà C và ông Y trả số tiền trên nhưng bà C và ông Y hứa hẹn nhiều lần cho đến nay vẫn không trả. Nay bà yêu cầu bà C và ông Y trả cho bà số tiền nợ hụi và tiền nợ còn thiếu tổng cộng là 141.000.000 đồng. Trong quá trình Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết vụ án thì bà C và ông Y có trả cho bà số tiền 1.000.000 đồng. Nay bà đồng ý đối trừ và yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cái Nước giải quyết buộc bà C và ông Y phải có trách nhiệm trả cho bà số tiền nợ hụi và tiền nợ còn thiếu tổng cộng là 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng).
Đối với bà Lê Thúy C và ông Lê Văn Y, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án về yêu cầu của bà Võ Ngọc Đ nhưng ông bà không có ý kiến. Tòa án thông báo để bà C và ông Y tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng bà C và ông Y vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa bà Võ Ngọc Đ với bà C và ông Y được.
TÒA ÁN NHẬN ĐỊNH:
[1] Xét quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn là bà Võ Ngọc Đ với bị đơn là bà Lê Thúy C và ông Lê Văn Y là “Tranh chấp nợ hụi và đòi lại tài sản” được quy định tại Điều 274 và Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có địa chỉ tại ấp Đ, xã P, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Lê Thúy C và ông Lê Văn Y đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia hòa giải nhưng đều vắng mặt nên vụ án thuộc trường hợp không hòa giải được, do đó Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử. Các phiên tòa sơ thẩm mở vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 27/4/2023; 07 giờ 30 phút ngày 19/5/2023 mặc dù bị đơn bà Lê Thúy C và ông Lê Văn Y đã được thông báo về thời gian và địa điểm xét xử nhưng đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét về nội dung tranh chấp của vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa, bà Võ Ngọc Đ trình bày vào năm 2020 âm lịch bà C có tham gia chơi 03 chân hụi từ 03 dây hụi do bà C và ông Y làm chủ hụi, đến ngày 12/4/2021 âm lịch bà C, ông Y tuyên bố bãi hụi và còn thiếu bà Đ số tiền 100.000.000 đồng. Đồng thời bà C và ông Y cũng có tham gia 01 chân hụi do bà Đ làm chủ hụi, sau khi hốt được 42.000.000 đồng thì bà C, ông Y không tiếp tục đóng hụi chết, bà Đ đã tiếp tục bỏ tiền ra đóng thay tổng số tiền 35.000.000 đồng. Ngoài ra, bà C và ông Y có mượn của bà 6.000.000 đồng để sử dụng vào mục đích sinh hoạt chung trong gia đình. Ngày 30/12/2022 âm lịch bà C và ông Y có đến gặp bà Đ để kết toán nợ thì số nợ bà C, ông Y còn nợ bà Đ tổng số tiền 141.000.000 đồng, có làm tờ thừa nhận và giấy xác nhận tiền nợ. Trong quá trình Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết vụ án thì bà C và ông Y có trả cho bà số tiền 1.000.000 đồng. Nay bà đồng ý đối trừ và yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cái Nước giải quyết buộc bà C và ông Y phải có trách nhiệm trả cho bà số tiền nợ hụi và tiền nợ còn thiếu tổng cộng là 140.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng, căn cứ theo tờ thừa nhận và giấy xác nhận tiền nợ do bà Đ cung cấp thì nội dung bà C thừa nhận còn thiếu bà C số tiền 141.000.000 đồng tiền hụi và tiền mượn. Như vậy việc bà C và ông Y còn nợ bà Võ Ngọc Đ 141.000.000 đồng tiền hụi và tiền mượn, đã trả được 1.000.000 đồng là thực tế có xảy ra. Nay bà Võ Ngọc Đ yêu cầu bà C và ông Y liên đới trả cho bà số tiền nợ hụi và tiền mượn là 140.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[4] Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, bà C, ông Y đã biết việc bà Đ khởi kiện và biết các tài liệu chứng cứ mà bà Đ cung cấp cho Tòa án nhưng bà C, ông Y không có ý kiến phản đối hay đưa ra tài liệu chứng cứ gì để chứng minh về việc đã trả số tiền nợ hụi cho bà Đ hay chưa, nên việc bà Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết là có cơ sở chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự có giá ngạch là 7.000.000 đồng bà C và ông Y phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 26; 35; 39; 147, 227, 244, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Các Điều 274, 357, 468, 471 Bộ luật dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Võ Ngọc Đ đối với bà Lê Thúy C và ông Lê Văn Y.
Buộc bà Lê Thúy C và ông Lê Văn Y phải liên đới trả cho bà Võ Ngọc Đ số tiền nợ hụi và tiền nợ tổng cộng là 140.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bà nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, bị đơn bà Lê Thúy C và ông Lê Văn Y không thi hành khoản tiền nêu trên thì bà Lê Thúy C và ông Lê Văn Y phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bà Lê Thúy C và ông Lê Văn Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi án có hiệu lực pháp luật. Bà Võ Ngọc Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Bà Võ Ngọc Đ có dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 3.500.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0008783 ngày 08 – 02 – 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước. Bà Võ Ngọc Đ được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí nêu trên tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi án có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, bà Võ Ngọc Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Lê Thúy C và ông Lê Văn Y có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Cái Nước; - Chi cục THADS huyện Cái Nước; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Tuấn Kiệt |