vanban.org

Bản án 44/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Trần Thị X đối với bị đơn là ông Trần Văn A về việc đòi nợ vay.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Bùi Văn A trả cho bà Trần Thị X 01 (một) chỉ vàng 24k. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Bùi Văn A được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Xem kiện Ẩn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Trần Thị X đối với bị đơn là ông Trần Văn A về việc đòi nợ vay.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH A
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2023/DS-ST
Ngày: 25-8-2023
Về việc tranh chấp
hợp đồngvay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Chúc Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Hoa Lài

2/ Bà Lê Thanh Xuân

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Thông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 141/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2023/QĐXX-ST ngày 08 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị X

Địa chỉ: Ấp TrH, xã TLA, huyện CTA, tỉnh Hậu Giang – Vắng mặt.

2. Bị đơn: Ông Bùi Văn A

Địa chỉ: Ấp TH, xã TLA, huyện CTA, tỉnh Hậu Giang – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là bà Trần Thị X trình bày: Vào tháng 11/2015, ông Bùi Văn Acó mượn của bà 01 chỉ vàng 24k để về trả tiền vay của Hội cựu chiến binh. Ông Ahứa một tuần sau sẽ vay tiền trả lại cho bà nhưng ông Acứ hứa lần lựa nhiều lần không trả. Ngày 08/5/2022, bà có làm đơn gửi chính quyền địa phương, chính quyền có vận động ông A, ông Ahứa trả nhưng vẫn không trả. Vì vậy bà khởi kiện yêu cầu ông Atrả cho bà 01 chỉ vàng 24k.

Quá trình tố tụng, bị đơn ông Bùi Văn Atrình bày: Vào năm 2015, do vợ ông bị bệnh không có tiền chữa bệnh nên ông đã hỏi mượn của bà X 01 chỉ vàng 24k. Khi ông đến nhà bà X hỏi mượn thì bà X đưa hơn 3.000.000đồng tương đương 01 chỉ vàng 24k. Khi mượn không có làm biên nhận, ông hẹn 03 tháng sau sẽ trả nhưng vợ ông còn bệnh nên ông không có khả năng trả. Đến nay bà X khởi kiện, yêu cầu ông trả 01 chỉ vàng 24k ông cũng đồng ý trả cho bà X nhưng hiện nay ông bị bệnh tai biến, không có khả năng trả.

Tại phiên tòa, bà X và ông Avắng mặt có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc thu thập chứng cứ từ khi thụ lý vụ án của Thẩm phán, mở và điều khiển phiên toà của Hội đồng xét xử tại phiên toà là tuân thủ đúng pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn là đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 5 Điều 466 của Bộ luật Dân sự 2015 và các Điều 147, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị X đối với bị đơn Bùi Văn Avề việc đòi nợ vay.

Buộc ông Bùi Văn A trả cho bà Trần Thị X 01 chỉ vàng 24k, bà X không yêu cầu tính lãi.

Về án phí các đương sự phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Trần Thị X cho rằng bị đơn Bùi Văn A mượn vàng nhưng không trả nên từ đó phát sinh tranh chấp. Xét đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn trong vụ án có địa chỉ cư trú tại ấp Trường Hòa, xã Trường Long A, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang nên theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn Trần Thị X yêu cầu bị đơn Bùi Văn A trả 01 chỉ vàng 24k.

Nguyên đơn cho bị đơn mượn 01 chỉ vàng 24k, không có làm hợp đồng hay biên nhận. Tuy nhiên, bị đơn là ông Bùi Văn A thừa nhận có mượn của bà X 01 chỉ vàng 24k, đồng ý trả cho bà X nhưng hiện không có khả năng trả vì đang bị bệnh.

Do ông A thừa nhận và đồng ý trả cho bà X 01 chỉ vàng 24k nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Bùi Văn A trả cho bà Trần Thị X 01 chỉ vàng 24k.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Bùi Văn A có nghĩa vụ trả vàng nên phải chịu án phí, tuy nhiên ông A đã đủ 60 tuổi và có yêu cầu miễn án phí nên căn cứ Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn án phí cho ông Bùi Văn A.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 147, 157, 227, 228, 271 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Áp dụng các Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Trần Thị X đối với bị đơn là ông Trần Văn A về việc đòi nợ vay.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Bùi Văn A trả cho bà Trần Thị X 01 (một) chỉ vàng 24k.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Bùi Văn A được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ