vanban.org

Bản án 44/2023/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Duy M đối với các bị đơn ông Lâm Văn L và bà Bùi Thị L1.

Buộc các bị đơn ông Lâm Văn L và bà Bùi Thị L1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho nguyên đơn ông Nguyễn Duy M số tiền mua thức ăn nuôi tôm còn nợ 145.843.000 đồng (Một trăm bốn mươi lăm triệu tám trăm bốn mươi ba nghìn đồng). Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "ND Nguyễn Duy M; BD Lâm Văn L, Bùi Thị L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Duy M đối với các bị đơn ông Lâm Văn L và bà Bùi Thị L1.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2023/DS-ST
Ngày: 30 - 5 – 2023
V/v Tranh chấp hợp đồng
mua bán tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chiêu Hùng.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Khánh Long

Ông Thái Trung Nghĩa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 38/2023/TLST-DS, ngày 27 tháng 02 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Duy M, sinh năm 1985; Địa chỉ: khóm N, phường H, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn: Chị Trần Diễm M1, sinh năm 1996; địa chỉ: khóm N, phường H, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Lâm Văn L, sinh năm 1961; (vắng mặt)

Bà Bùi Thị L1, sinh năm 1960; (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 08/9/2022 của nguyên đơn ông Nguyễn Duy M cũng như quá trình giải quyết vụ án trình bày: Từ tháng 4/2018 đến tháng 10/2018 ông Nguyễn Duy M (chủ hộ kinh doanh L) thông qua nhân viên Lê Hoài T3 có giao kết hợp đồng về việc mua bán thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản với vợ chồng ông Lâm Văn L và bà Bùi Thị L1. Theo thỏa thuận ông M (thông qua nhân viên T3) cung cấp cho vợ chồng ông L các sản phẩm như: thức ăn, thuốc và hóa chất mang nhãn hiệu Việt Hoa phục vụ nuôi trồng thủy sản. Đơn giá được niêm yết tại cửa hàng và việc giao nhận hàng hóa sẽ ghi vào sổ giao nhận hàng. Về phương thức thanh toán hai bên thỏa thuận vợ chồng ông L chậm nhất cuối vụ thu tôm sẽ thanh toán dứt điểm tiền hàng. Trường hợp nuôi tôm hơn 1 vụ/năm thì phải thanh toán dứt điểm tiền hàng của vụ tôm trước thì mới tiếp tục được đặt hàng. Trường hợp nuôi tôm thất bại vẫn không làm mất nghĩa vụ thanh toán. Nếu vi phạm ông M có quyền cắt hàng và yêu cầu thanh toán toàn bộ tiền hàng đang nợ. Tuy nhiên sau khi thu hoạch tôm thì ông L, bà L1 không thanh toán dứt điểm tiền hàng và còn nợ lại số tiền 145.843.000 đồng.

Nay tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lâm Văn L và bà Bùi Thị L1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Nguyễn Duy M - Chủ hộ kinh doanh L số tiền nợ là 145.843.000 đồng (Một trăm bốn mươi lăm triệu tám trăm bốn mươi ba nghìn đồng).

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông L, bà L1, nhưng ông L, bà L1 không có văn bản gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của ông M. Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ ông L, bà L1 hai lần để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông L, bà L1 đều vắng mặt không có lý do, Tòa án đã ban hành thông báo cho ông L, bà L1 biết kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Đồng thời, Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ông L, bà L1 cũng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng ông L, bà L1 vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn L, L1 chưa chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng. Chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử đã xác định đúng quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc các bị đơn liên đới thanh toán số tiền mua thức ăn còn nợ 145.843.000 đồng (Một trăm bốn mươi lăm triệu tám trăm bốn mươi ba nghìn đồng) cho nguyên đơn. Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm đối với đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Trần Diễm M1 có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Lâm Văn L và bà Bùi Thị L1 đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với chị M1, ông L, bà L1.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa nguyên đơn ông Nguyễn Duy M với bị đơn ông Lâm Văn L và bà Bùi Thị L1 là tranh chấp về hợp đồng dân sự mua bán tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn có địa chỉ cư trú ở ấp Tân Trà, xã Vĩnh Tân, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về nội dung vụ án: Vào năm 2018 nguyên đơn có bán thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản cho các bị đơn, hàng hóa được nhân viên giao hàng chở tận nơi hoặc ông L, bà L1 hay người nhà ông L đến lấy hàng tại kho của ông M, khi kết toán lại thì ông L, bà L1 còn nợ ông M số tiền 145.843.000 đồng (Một trăm bốn mươi lăm triệu tám trăm bốn mươi ba nghìn đồng) và hai bên có ký đối chiếu xác nhận công nợ và được bị đơn ông L, bà L1 thừa nhận không phản đối, tình tiết nêu trên nên nguyên đơn không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận buộc các bị đơn liên đới trả số tiền mua thức ăn còn nợ 145.843.000 đồng (Một trăm bốn mươi lăm triệu tám trăm bốn mươi ba nghìn đồng) cho nguyên đơn.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ông Nguyễn Duy M có đơn yêu cầu thi hành án, thì hàng tháng ông L và bà L1 phải liên đới trả lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên các bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật, do các bị đơn là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, nên căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 ông L và bà L1 được miễn tiền án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 ; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 430; Điều 433; Điều 434; Điều 440; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Duy M đối với các bị đơn ông Lâm Văn L và bà Bùi Thị L1.

Buộc các bị đơn ông Lâm Văn L và bà Bùi Thị L1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho nguyên đơn ông Nguyễn Duy M số tiền mua thức ăn nuôi tôm còn nợ 145.843.000 đồng (Một trăm bốn mươi lăm triệu tám trăm bốn mươi ba nghìn đồng).

2. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ông Nguyễn Duy M có đơn yêu cầu thi hành án, thì hàng tháng ông L và bà L1 phải liên đới trả lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bị đơn ông Lâm Văn L và bà Bùi Thị L1 phải liên đới cùng chịu án phí là 7.292.150 đồng (bảy triệu hai trăm chín mươi hai nghìn một trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Do ông L và bà L1 là người cao tuổi và có đơn xin được miễn tiền án phí nên ông L và bà L1 được miễn tiền án phí.

- Nguyên đơn ông Nguyễn Duy M không phải chịu án phí, được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.646.075 đồng (ba triệu sáu trăm bốn mươi sáu nghìn không trăm bảy mươi lăm đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006130 ngày 27/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ