- Tranh chấp gì? án dân sự — "Võ Văn Hiền tranh chấp Nguyễn Văn Ô"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Võ Văn H - Chủ hộ kinh doanh Hoàng Quyên 1.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2023/DS-ST Ngày: 05-5-2023 V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Phước Tâm.
2. Bà Võ Thị Điệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Kim Xoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 05 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 557/2022/TLST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2023/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 108/2023/QĐST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Võ Văn H - sinh năm 1981,
Là Chủ hộ kinh doanh H,
Địa chỉ: Khóm B, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Huỳnh Tuấn D - sinh năm 1991; địa chỉ: khóm L, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (theo hợp đồng ủy quyền ngày 04/7/2022).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Ô - sinh năm 1969, bà Nguyễn Thị T - sinh năm 1967 và anh Lê Văn T1 - sinh năm 1987; Cùng địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
(Anh D1 có đơn xin vắng mặt; tất cả bị đơn đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, lời trình bày tại Tòa án, anh Huỳnh Tuấn D đại diện cho nguyên đơn trình bày như sau:
Anh Võ Văn H là chủ hộ kinh doanh H, chuyên kinh doanh thức ăn gia súc, gia cầm, thủy sản và thuốc thú y, thủy sản. Đầu năm 2018, ông Nguyễn Văn Ô và bà Nguyễn Thị T và anh Lê Văn T1 có mua nợ thức thủy sản tại cửa hàng H1 do anh H đại diện chủ hộ kinh doanh; ông Ô, bà T và anh T1 còn nợ của anh H tổng số tiền là 788.970.000 đồng có giấy xác nhận nợ đề ngày 10/11/2021.
Từ ngày 10/11/2021 đến ngày 10/5/2022, thì hai bên có phát sinh thêm việc mua bán và trả nợ, anh H thống nhất số nợ hiện tại các bị đơn còn thiếu là 702.070.000 đồng.
Do đó, anh Võ Văn H - Chủ hộ kinh doanh Hoàng Quyên 1 - yêu cầu ông Nguyễn Văn Ông bà Nguyễn Thị T2 và anh Lê Văn T1 phải có trách nhiệm liên đới trả cho anh Võ Văn H số tiền mua thức ăn thủy sản còn thiếu là 702.070.000 đồng (bảy trăm lẻ hai triệu, không trăm bảy mươi nghìn đồng), không yêu cầu tính lãi.
* Các bị đơn ông Nguyễn Văn Ô, bà Nguyễn Thị T2 và anh Lê Văn T1 đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cùng các giấy triệu tập hợp lệ nhưng đều không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không tham gia các phiên tòa xét xử của Tòa án. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của các bị đơn là ông Ô và bà T2. Riêng anh Lê Văn T1 có ý kiến cho rằng giữa nguyên đơn và các bị đơn có thỏa thuận mua bán thức ăn thủy sản và chốt nợ bằng giấy xác nhận ngày 10/11/2021 nhưng sau đó hai bên phát sinh thêm việc mua bán và trả nợ nên số nợ hiện tại chỉ còn lại 702.070.000 đồng (bảy trăm lẻ hai triệu, không trăm bảy mươi nghìn đồng) và anh cũng đồng ý trả số tiền này cho nguyên đơn.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã cung cấp tài liệu, chứng cứ gồm: Bản sao giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, Bản sao Giấy xác nhận nợ đề ngày 10/11/2021. Đối với các chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp thì bị đơn đã biết nên không yêu cầu sao chụp lại. Bị đơn giao nộp bản sao Phiếu giao hàng do cửa hàng H1 xác lập, tên khách hàng là “A T3 (Cò ếch)”; nguyên đơn thống nhất nên không yêu cầu sao chụp lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm liên đới trả số tiền mua bán thức ăn thủy sản còn thiếu và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện. Do nơi cư trú bị đơn ở xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự có mặt của các đương sự: Tại phiên tòa ngày 05/5/2023, các bị đơn ông Nguyễn Văn Ô, bà Nguyễn Thị T2 và anh Lê Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có người đại diện tham gia phiên tòa, đồng thời cũng không có yêu cầu gì trong vụ án này, riêng người đại diện cho nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và các bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Nguyên đơn anh Võ Văn H đại diện cho hộ kinh doanh H2 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn Ô, bà Nguyễn Thị T2 và anh Lê Văn T1 phải liên đới trả cho anh Võ Văn H số tiền là mua thức ăn thủy sản còn thiếu là 702.070.000 đồng (bảy trăm lẻ hai triệu, không trăm bảy mươi nghìn đồng), không yêu cầu tính lãi; Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ vào giấy xác nhận nợ ngày 10/11/2021 mà nguyên đơn giao nộp đã thể hiện giữa Hộ kinh doanh H2 do anh Võ Văn H đại diện và các bị đơn bao gồm ông Nguyễn Văn Ô, bà Nguyễn Thị T2 và anh Lê Văn T1 có thỏa thuận mua bán thức ăn thủy sản, tính đến ngày 17/10/2021 thì số tiền bị đơn còn nợ của nguyên đơn là 788.970.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng, thể hiện rõ nội dung vụ việc và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng như tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn nộp kèm theo đơn khởi kiện cho các bị đơn được biết. Bị đơn anh Lê Văn T1 đã giao nộp cho Tòa án bản sao Phiếu giao hàng của cửa hàng H1 1 xác lập, anh T1 cho rằng phiếu giao hàng này được cửa hàng H1 xác lập vào năm 2022, tức là phát sinh sau khi hai bên chốt nợ theo giấy xác nhận nợ mà nguyên đơn giao nộp, đồng thời, theo nội dung phiếu giao hàng mà bị đơn giao nộp thể hiện hai bên có thỏa thuận mua bán hàng mới và có thể hiện việc trả nợ, số tiền nợ bị đơn còn thiếu là 702.070.00 đồng. Đối với việc bị đơn anh Lê Văn T1 xuất trình tài liệu, chứng cứ là phiếu giao hàng thì nguyên đơn thống nhất, nguyên đơn xác định lại số tiền bị đơn hiện còn thiếu là 702.070.00 đồng (bảy trăm lẻ hai triệu, không trăm bảy mươi nghìn đồng) và yêu cầu các bị đơn phải có trách nhiệm liên đới trả lại.
Theo giấy xác nhận nợ đề ngày 10/11/2021 thể hiện bên nhận nợ gồm có ông Nguyễn Văn Ô, bà Nguyễn Thị T2 và anh Lê Văn T1; do đó, ông Ô, bà T2 và anh T1 phải có trách nhiệm liên đới trả nợ là phù hợp.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xác định giữa anh Võ Văn H (Chủ hộ kinh doanh H) và các bị đơn gồm ông Nguyễn Văn Ô, bà Nguyễn Thị T2 và anh Lê Văn T1 có thỏa thuận mua bán hàng hóa là thức ăn thủy sản, số tiền mà các bị đơn còn thiếu của nguyên đơn là 702.070.000 đồng nên việc nguyên đơn yêu cầu các bị đơn có nghĩa vụ liên đới trả lại số tiền 702.070.000 đồng (bảy trăm lẻ hai triệu, không trăm bảy mươi nghìn đồng) là có cơ sở nên chấp nhận.
Đối với lãi suất nguyên đơn không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên các bị đơn phải liên đới chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 430, Điều 440 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Võ Văn H - Chủ hộ kinh doanh Hoàng Quyên 1. Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn Ô, bà Nguyễn Thị T2 và anh Lê Văn T1 phải có trách nhiệm liên đới trả cho anh Võ Văn H - Chủ hộ kinh doanh H - số tiền mua bán thức ăn thủy sản còn thiếu là 702.070.000 (bảy trăm lẻ hai triệu, không trăm bảy mươi nghìn) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
- Ông Nguyễn Văn Ô, bà Nguyễn Thị T2 và anh Lê Văn T1 phải liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 32.082.800 đồng (ba mươi hai triệu, không trăm tám mươi hai nghìn, tám trăm đồng).
- Anh Võ Văn H - Chủ hộ kinh doanh Hoàng Quyên 1 - không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 17.779.000 đồng (mười bảy triệu, bảy trăm bảy mươi chín nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0009898 ngày 06 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
4. Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND HCL; - TAND Tỉnh; - Chi cục THADS HCL; - Lưu HSVA (C.6b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trương Trường Chinh |