- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thị Son - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Huỳnh Thị S. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HS-ST ngày 29-3-2022 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng đối với phần quyết định hình phạt của bị cáo Huỳnh Thị S.
- Căn cứ chính? luật Tố tụng h nh sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2022/HS-PT Ngày: 09- 6-2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tôn Thị Thanh Thúy.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Thành Hữu.
Bà Tăng Thị Thúy Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Mỹ Nhiên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đào Tiến Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2022/TLPT-HS ngày 13-5-2022 đối với bị cáo Huỳnh Thị S do có kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thị S đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HS-ST ngày 29-3-2022 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị cáo có kháng cáo: Huỳnh Thị S; Sinh ngày 19-7-1975, tại thị xã V, tỉnh T; Nơi cư trú: Ấp NC, xã LH, thị xã V, tỉnh T; Nghề nghiệp: Nuôi tôm; Tr nh đ h c vấn: 3/12; Dân t c: Kinh; Giới t nh: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn Y (c) và bà Châu Thị B (s); Có chồng: Lâm HK và 03 người con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2004; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06-5-2021 đến nay. (có mặt)
- Những người dưới đây không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Bị hại L KT, Võ HT và những người làm chứng trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 30-7-2017 âm lịch (tức 27-3-2017 dương lịch) đến ngày 30-02-2020 âm lịch (nhằm ngày 23-3-2020 dương lịch) bị cáo Huỳnh Thị Son có đứng ra tổ chức 07 dây hụi, do bị cáo làm chủ hụi và có 66 hụi viên tham gia (trong đó có bị hại L KT và Võ HT). Lợi dụng sự tin tưởng của các hụi viên, bị cáo Huỳnh Thị S đã đưa ra những thông tin không có thật là trong các hụi viên có người nhờ bị cáo đứng ra bán hụi (trầu hụi), mục đ ch để lừa đối bị hại L KT và Võ HT để bán 04 chân hụi không có thật để chiếm đoạt số tiền 228.310.000 đồng, cụ thể:
- Ngày 30-3-2018 âm lịch bán 01 chân hụi cho bị hại Võ HT chiếm đoạt số tiền 45.900.000 đồng và ngày 25-3-2019 âm lịch tiếp tục bán cho bị hại HT 01 chân hụi chiếm đoạt số tiền 53.660.000 đồng. Tổng c ng số tiền chiếm đoạt của bị hại HTlà 99.560.000 đồng.
- Ngày 25-6-2019 âm lịch bán cho bị hại L KT 01 chân hụi chiếm đoạt số tiền 56.750.000 đồng và ngày 10-8-2019 âm lịch tiếp tục bán cho bị hại KT m t chân hụi khác chiếm đoạt số tiền 72.000.000 đồng. Tổng c ng số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại KT là 128.750.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo đã thừa nhận toàn b hành vi của mình là trong thời gian làm chủ hụi đã đưa ra nhưng thông tin không đúng sự thật để lừa dối bán hụi 04 chân không có thật nhằm chiếm đoạt tiền của các bị hại Võ HT và L KT với tổng số tiền 228.310.000 đồng.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HS-ST ngày 29-3-2022 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, quyết định:
- Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị S, phạm t i “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 của B luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị S 06 (sáu) năm tù. Thời gian phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo đi thi hành án
- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
* Ngày 13-4-2022, bị cáo Huỳnh Thị S kháng cáo xin giảm nhẹ m t phần hình phạt để bị cáo sớm đoàn tụ gia đ nh và làm ăn để nuôi con, với các lý do: bị cáo có tr nh đ h c vấn thấp nên không thông hiểu pháp luật, bị cáo thành khẩn khai báo thừa nhận hành vi của mình, biết ăn năn hối cải và tự nguyện khắc phục toàn b số tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại; gia đ nh bị cáo có người thân có công với cách mạng, ông ngoại là liệt sĩ; gia đ nh bị cáo hiện tại gặp nhiều khó khăn, bị cáo là lao đ ng ch nh nuôi 03 người con trong đ tuổi đi h c.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo vẫn giữ nguyên n i dung kháng cáo xin giảm nhẹ h nh phạt.
- Vị đại diện viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng giữ quyền công tố nhà nước tr nh bày quan điểm giải quyết vụ án và đề nghị H i đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm c khoản 1 Điều 357 B luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo từ 06 tháng đến 12 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:
Về t nh hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của bị cáo được lập và n p tại Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 13-4-2022 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, h nh thức, n i dung kháng cáo được quy định tại các Điều 331, 332 và 333 B luật Tố tụng h nh sự năm 2015 nên H i đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận và xem xét giải quyết kháng cáo của bị cáo theo tr nh tự phúc thẩm.
Xét về hành vi phạm t i của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Thị S thừa nhận toàn b hành vi phạm t i của của mình, lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với kết quả điều tra, lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên có căn cứ xác định: Từ ngày 20-3-2018 âm lịch đến ngày 10-8-2019 âm lịch, bị cáo Huỳnh Thị S đã lợi dụng sự tin tưởng của các bị hại Võ HT và L KT, trong quá trình tổ chức các dây hụi do bị cáo làm chủ, bị cáo đã đưa ra những thông tin không có thật về việc có hụi viên bán hụi để các bị hại HT và KT tin là thật và đã mua 04 chân hụi không có thật để bị cáo chiếm đoạt số tiền 228.310.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành t i “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của B luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về t i “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 B luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là chính xác, phù hợp với pháp luật, không oan cho bị cáo.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo: Xét thấy, cấp sơ thẩm đã xác định bị cáo có m t tình tiết tăng nặng là “phạm t i 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của B luật Hình sự; Đồng thời, xác định và áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như bị cáo có nhân thân tốt không tiền án, tiền sự; có tr nh đ h c vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; sau khi sự việc xảy ra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tự nguyện khắc phục toàn b thiệt hại cho các bị hại; gia đ nh bị cáo có người thân là người có công với cách mạng (ông ngoại bị cáo là liệt sĩ), là các tình tiết được quy định tại điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51 của B luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cấp sơ thẩm đã xem xét và cân nhắc áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 của B luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt với mức án 06 (sáu) năm tù là có căn cứ, tương xứng với hành vi phạm t i của bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với các lý do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như nêu trên, xét thấy, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ cho bị cáo. Đối với tình tiết hiện tại hoàn cảnh gia đ nh bị cáo khó khăn, bị cáo là lao đ ng chính phải nuôi 03 người con trong đ tuổi đi h c, không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 của B luật Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo trình bày thêm là bị hại Võ HT xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và có gửi kèm đơn xin giảm án của bị hại HT. Xét thấy, sau khi xét xử sơ thẩm bị hại HT có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là t nh tiết giảm nhẹ mới và tại giai đoạn sơ thẩm bị hại chưa xin giảm nhẹ cho bị cáo nên H i đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét và áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của B luật Hình sự, để giảm m t phần hình phạt cho bị cáo.
Từ những phân tích trên, H i đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm c khoản 1 Điều 357 của B luật Tố tụng h nh sự, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo, sửa án sơ thẩm đối với phần quyết định hình phạt của bị cáo.
Án ph h nh sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án ph h nh sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu n p, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 B luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Huỳnh Thị S. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HS-ST ngày 29-3-2022 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng đối với phần quyết định hình phạt của bị cáo Huỳnh Thị S.
2. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 của B luật H nh sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị S 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về t i “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian chấp hành h nh phạt tù kể từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo đi thi hành án.
3. Án ph h nh sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của B luật Tố tụng h nh sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án ph và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Huỳnh Thị S không phải chịu án ph h nh sự phúc thẩm.
4. Các phần quyết định khác của bản án h nh sự sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Sóc Trăng (01); - TAND TX. Vĩnh Châu (02); - VKSND TX. Vĩnh Châu (01); - CQĐT - Công an TX. Vĩnh Châu (01); - Chi cục THADS TX. Vĩnh Châu (01); - PHSNV - Công an tỉnh Sóc Trăng (01); - Bị cáo (01); - PKTNV-THA-TAND tỉnh Sóc Trăng (01); - CQTHAHS- Công an tỉnh Sóc Trăng (01); - Sở Tư pháp (01); - Lưu HS, THS (04). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Tôn Thị Thanh Thúy |