vanban.org

Bản án 44/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 22/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Xuân T , Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo Đỗ Thị T1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/7/2022 Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2022 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân T + L (Trộm cắp TS) Đỗ Thị T (Tiêu thụ TS...) - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Xuân T , Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo Đỗ Thị T1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 44/2022/HS-ST
Ngày: 22/12/2022

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Việt Cường

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hiến - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2022/ HSST ngày 31 tháng 10 năm 2022 theo “Quyết định đưa vụ án ra xét xử” số 33/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2022 và “Thông báo thay thế người tiến hành tố tụng và thời gian mở lại phiên tòa” số 10/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo Nguyễn Xuân T ; Sinh năm 1972

HKTT: Số nhà ... PBC, phường TS, thành phố TH; Nơi ở hiện nay: Phòng ... N..., chung cư ĐP, phường ĐV, thành phố TH, tỉnh TH; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Xuân Q (đã chết) và bà Phạm Thị H , sinh năm 1945; Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ 3; Vợ: Lê Thị N , sinh năm 1978; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: - Ngày 15/8/1990 bị Tòa án nhân dân thị xã Thanh Hóa xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản công dân”

- Ngày 16/5/1991 Tòa án nhân dân thị xã Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản. Tổng hợp với 06 tháng của bản án số 35 ngày 15/8/1990 buộc phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 15 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt ngày 03/4/1992.

- Ngày 30/10/1994 bị Công an phường Phú Sơn xử phạt hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng

- Ngày 03/8/2016 bị Công an phường Tân Sơn xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/7/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)

2. Bị cáo Nguyễn Văn L . Sinh năm 1998;

HKTT và chỗ ở hiện tại: Lô ..., MB ..., phường ĐH, thành phố TH, tỉnh TH; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn V , sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị X , sinh năm 1973; Gia đình có 03 anh em, bị can là con thứ 2.

Tiền án: Ngày 29/10/2020 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/11/2021

Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 17/12/2014 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 14 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 28 tháng về tội cướp tài sản. (Chấp hành xong bản án ngày 11/11/2021)

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 13/10/2022 chuyển tạm giam ngày 16/10/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)

3. Bị cáo Đỗ Thị Thanh; Sinh năm 1966

HKTT: Thôn PA, phường TK, thành phố TH, tỉnh TH; Chỗ ở hiện tại: NHT, phường LS, thành phố TH, tỉnh TH; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Đỗ Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị S (đã chết); Chồng Đỗ Doãn K , sinh năm 1960; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1987, nhỏ sinh năm 1990

Tiền án: Tại bản án số 95/2022/HSST ngày 15/3/2022 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. UBND phường TK (nơi bị cáo cư trú) nhận hồ sơ thi hành án cải tạo không giam giữ ngày 26/4/2022. Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt)

Người bị hại

1. Anh Trịnh Đức N , sinh năm 1979 (vắng mặt)

Trú tại: CH. phường TS, TP.TH, tỉnh TH

2. Anh Nguyễn Việt P , sinh năm 1992 (vắng mặt)

Trú tại: LLQ, phường ĐV, TP. TH, tỉnh TH

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Lê Minh H , sinh năm 1970; Trú tại: 08/20 CBQ, phường TT, thành phố TH, tỉnh TH (vắng mặt)

2. Chị Lê Thị L , sinh năm 1997; Thường trú tại: Thôn ..., xã HT, huyện HH, tỉnh TH; Tạm trú tại: NCT, phường ĐS, TP.TH, tỉnh TH (vắng mặt)

3. Bà Đỗ Thị T , Sinh năm 1966; HKTT: Thôn PA, phường TK, thành phố TH, tỉnh TH; Chỗ ở hiện tại: NHT, phường LS, thành phố TH, tỉnh TH

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu nên Nguyễn Xuân T , Nguyễn Văn L rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Các bị cáo đã cùng nhau thực hiện hai vụ trộm cắp, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 03 giờ ngày 17/6/2022, Nguyễn Xuân T điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Classico màu đen, BKS 58KA - 4841 chở Nguyễn Văn L đến cửa hàng thu mua phế liệu của Đỗ Thị T1, T và L vào nhà T1, L hỏi mượn của T1 01 chiếc xe kéo, T đem xe kéo ra buộc vào đuôi xe máy, L nhìn thấy 01 kìm cộng lực ở sân nên cầm luôn cho lên xe, sau đó cả hai đi tìm nhà dân để trộm cắp tài sản.

Khi đi đến lô 28, LK19 KĐT Đông Sơn, phường An Hưng, thành phố Thanh Hóa (công trình xây dựng anh Trịnh Đức N , SN 1979 là người thi công), quan sát thấy không có người trông coi, L dùng kìm cộng lực cắt khóa cửa rồi cùng T vào trong nhà lục soát và lấy đi các tài sản của anh N gồm: 01 máy bơm nhãn hiệu RollStar màu xanh, 01 máy rửa xe nhãn hiệu Gaopinzhi màu xanh, 01 máy đầm cầm tay nhãn hiệu Osuka màu cam, 01 máy đục nhãn hiệu Hikari màu cam, 01 máy cắt gạch nhãn hiệu Feg model EG-112, 01 máy khoan - đục nhãn hiệu Hugong màu đen, 01 máy đục nhãn hiệu Gomes, 01 quạt công nghiệp nhãn hiệu Điện cơ 91, 01 máy cắt cầm tay nhãn hiệu Sencan màu cam, 01 máy tời vật liệu gắn motor Singleprase, 01 máy duỗi sắt gắn motor Singleprase, 01 xe rùa đẩy vật liệu, 01 máy đầm (tất cả đã qua sử dụng).

T và L dùng xe kéo đưa số tài sản trên về cửa hàng phế liệu của Đỗ Thị T1. Thành nói với Đỗ Thị T1 nguồn gốc các tài sản này là do T trộm cắp được đem bán. Đỗ Thị T1 thấy rẻ nên vẫn mua các tài sản trên với số tiền 2.100.000đ. Số tiền này T và L chia đôi chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 20/07/2022 Cơ quan điều tra triệu tập Đỗ Thị T1lên làm việc. T1đã tự giác giao nộp lại toàn bộ tài sản mua của T và L cho Cơ quan điều tra. Đồng thời T1 tự động nộp cho Cơ quan điều tra 01 xe kéo, 01 kìm cộng lực mà T , L mượn của T1và sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội.

Kết luận định giá số 102/KL-HĐĐGTS ngày 11/7/2022 của hội đồng định giá trong TTHS - UBND thành phố Thanh Hóa xác định số tài sản các bị cáo trộm cắp ngày 17/06/2022 tại số nhà 28, LK39 KĐT Đông Sơn, phường An Hưng, thành phố Thanh Hóa (nêu trên) có tổng trị giá 3.870.000đ

Ngày 10/8/2022 Cơ quan điều tra đã trả các tài sản trên cho anh Nguyên.

Vụ thứ hai: Khoảng 01 giờ ngày 06/07/2022, T điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Classico màu đen, BKS 58KA - 4841 chở L đi trộm cắp tài sản, khi đến số nhà 81 Lạc Long Quân, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa (Nhà của anh Nguyễn Việt P) đang sửa chữa, thấy phần cửa kính trước tầng 2 chưa hoàn thiện, quan sát thấy không có người trông coi, L trèo tường theo lối này đi vào trong. Sau đó đi xuống tầng 1 mở cửa cuốn cho T vào. T và L thấy trong nhà có 01 tivi nhãn hiệu Samsung 49 inche màu đen, 01 máy hút ẩm nhãn hiệu Electrolux màu trắng và 01 bộ giàn giáo, T và L lấy các tài sản này mang ra xe mô tô rồi cùng mang đến cửa hàng thu mua phế liệu của chị Lê Thị L để bán. T nói với chị L đây là tài sản của gia đình T không dùng nữa nên bán, chị L đồng ý mua giàn giáo giá 100.000đ, 01 máy hút ẩm T và L gửi lại nhà chị L , ti vi mang về nhà L , chiều cùng ngày T mang tivi trộm cắp được đến gặp anh Lê Minh H nói với anh H đây là ti vi của nhà không dùng nữa nên bán, anh H đồng ý mua với giá 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền này T và L chia đôi.

Sau khi được thông báo các tài sản mua của T , L và tài sản T gửi lại nhà chị L là tài sản do phạm tội mà có, ngày 23/07/2022, chị Lê Thị L giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 máy thu hút ẩm nhãn hiệu Electrolux màu trắng còn dàn giáo chị L đã bán cho khách qua đường, không thu giữ được. Ngày 11/08 2022, anh Lê Minh H giao nộp 01 ti vi nhãn hiệu Sam sung màu đen kích thước 19 inche model UA49MU6400K.

Kết luận định giá số 139 KL-HĐĐGTS ngày 12/9/2022 của Hội đồng định giá trong TTHS - UBND thành phố Thanh Hóa xác định số tài sản các bị cáo trộm cắp ngày 06/7/2022 tại SN 81 Lạc Long Quân, P. Đông Vệ, TP. Thanh Hóa (01 ti vi, 01 máy hút ẩm, 01 bộ giàn giáo) có tổng trị giá là 12.145.000đ

Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc ti vi và máy hút ẩm cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Việt P ; Bộ giàn giáo sau khi mua chị L đã bán cho người qua đường không quen biết nên không thu hồi được

Ngày 13/10/2022 bị cáo L đến Công an TP.Thanh Hóa đầu thú.

Quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Xuân T , Nguyễn Văn L , Đỗ Thị T1 thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau; Phù hợp lời khai của những người bị hại, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Về vật chứng: Hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa gồm: 01 kìm cộng lực đã cũ gỉ; 01 xe kéo tự chế cũ gỉ theo “Biên bản giao nhận vật chứng” số 08/2023/THA ngày 26/10/2022 giữa Công an TPTH và Chi cục Thi hành án dân sự TPTH.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Classico màu đen, BKS 58KA - 4841 mà các bị cáo T , L dùng làm phương tiện phạm tội, quá trình điều tra xác định là xe của L , khi mua xe này BKS đã mờ nên L tháo vứt đi và nhặt được BKS 58KA - 4841 lắp vào xe. Sau khi phạm tội L đã bán chiếc xe trên cho người không quen biết nên không thu giữ được. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ.

Đối với anh Lê Minh H và chị Lê Thị L , là những người đã mua tài sản (bộ giàn giáo và tivi) mà bị cáo T , L trộm cắp. Song khi mua tài sản này anh H , chị L không biết đây là tài sản các bị cáo trộm cắp nên cơ quan điều tra không xử lý.

Về phần dân sự: Anh Trịnh Đức N , anh Nguyễn Việt P, anh Lê Minh H , chị Lê Thị L , bị cáo Đỗ Thị T không có yêu cầu bồi thường dân sự

Tại bản cáo trạng số 277/CT-VKS ngày 26 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Xuân T , Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự. Truy tố Đỗ Thị T 1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 - của BLHS (Đối với bị cáo T ); áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 - của BLHS (Đối với bị cáo L ); Tuyên bố Nguyễn Xuân T và Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt Nguyễn Xuân T từ 15 tháng đến 18 tháng tù; Xử phạt Nguyễn Văn L từ 15 tháng đến 18 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo T , L tính từ ngày tạm giam; Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của BLHS; Tuyên bố Đỗ Thị T1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Xử phạt Đỗ Thị T 1 từ 07 tháng đến 09 tháng tù, tổng hợp với thời gian còn lại của bản án HSST số 95 ngày 15/3/2022 buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án; Về vật chứng: trả lại cho Đỗ Thị T1 01 kìm cộng lực đã cũ gỉ; 01 xe kéo tự chế cũ gỉ; Về bồi thường dân sự: Người bị hại, người có QLNVLQ không yêu cầu nên không xét; Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.

Các bị cáo Nguyễn Xuân T , Nguyễn Văn L , Đỗ Thị T1 thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội; Không tranh luận với đại diện VKS, không bào chữa; Lời nói sau cùng các bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật với mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào các ngày 07/6/2022 tại lô 28, LK19 KĐT Đông Sơn, phường An Hưng, thành phố Thanh Hóa; Và ngày 06/7/2022, tại số nhà 81 Lạc Long Quân, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa các bị cáo Nguyễn Xuân T và Nguyễn Văn L đã có hành vi lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý trông coi tài sản, lén lút chiếm đoạt của anh Trịnh Đức N các tài sản có tổng trị giá là 3.870.000đ đem bán cho Đỗ Thị T1; Và chiếm đoạt của anh Nguyễn Việt P các tài sản có tổng trị giá là 12.415.000đ đem bán cho anh Lê Minh H và chị Lê Thị L lấy tiền chi tiêu cá nhân. Tổng trị giá tài sản các bị cáo trộm cắp hai lần là 16.015.000đ (mười sáu triệu không trăm mười lăm ngàn đồng).

Bị cáo Đỗ Thị T mặc dù biết rõ tài sản T và L bán cho mình là tài sản do trộm cắp mà có song vì hám lợi nên đã mua các tài sản trên. Tài sản phạm pháp trị giá 3.870.000đ; Thu lợi bất chính 1.770.000đ

Căn cứ hành vi của các bị cáo và kết luận định giá tài sản đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Xuân T , Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo Đỗ Thị T1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T , Nguyễn Văn L theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Đỗ Thị T1 theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án: Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, các bị cáo T , L đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc trông coi quản lý tài sản, lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Việt P và anh Trịnh Đức N, tổng trị giá tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 16.015.000đ (mười sáu triệu không trăm mười lăm ngàn đồng). Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật; gây mất trật tự trị an trong khu vực, thể hiện sự coi thường pháp luật của các bị cáo. Bị cáo Đỗ Thị T1 mặc dù biết rõ tài sản mà bị cáo T và bị cáo L bán cho mình là tài sản do trộm cắp mà có song vì hám lợi nên đã mua các tài sản trên. Hành vi của bị cáo đã xâm hại trật tự công cộng, tạo điều kiện để người khác phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo.

Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo có nhân thân xấu; Bị cáo T , bị cáo L phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Bị cáo T1, bị cáo L đã bị kết án chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự. Bị cáo L “đầu thú” nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51- Bộ luật hình sự. Do đó, HĐXX xem xét để có hình phạt phù hợp, đảm bảo tính răn đe đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với các bị cáo. Song cần cách ly các bị cáo khỏi đời sống cộng đồng xã hội một thời gian để cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và để phòng ngừa tội phạm chung.

Xét vai trò đồng phạm: Vụ án có đồng phạm giản đơn (đối với tội “Trộm cắp tài sản”). Các bị cáo T , L đều giữ vai trò là người thực hành, cùng chủ động, trực tiếp thực hiện tội phạm; Hưởng lợi ngang nhau. Do đó bị cáo T , L chịu trách nhiệm ngang nhau. Tuy nhiên bị cáo L có nhiều tình tiết tăng nặng hơn T do đó phải chịu hình phạt cao hơn T

Về tổng hợp hình phạt: Tại bản án HSST số 95/2022/HSST ngày 15/3/2022 của TAND TP. Thanh Hóa, bị cáo Đỗ Thị T1 bị xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ và được giao cho UBND phường TK, TP.TH giám sát giáo dục; Ngày 26/4/2022 UBND phường TK nhận hồ sơ thi hành án cải tạo không giam giữ của Cơ quan thi hành án hình sự Công an TPTH. Như vậy tính đến ngày xét xử sơ thẩm bị cáo T1 đã chấp hành 07 tháng 26 ngày cải tạo không giam giữ, còn phải chấp hành 01 tháng 04 ngày cải tạo không giam giữ, được chuyển đổi thành 11 ngày tù. HĐXX áp dụng Điều 55, 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của hai bản án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung.

Về vật chứng: Xét 01 chiếc xe kéo, 01 kìm cộng lực bị cáo T1 nộp cho Cơ quan điều tra là tài sản mà T và L mượn của T1, khi cho T , L mượn bị cáo T1 không biết T , L sử dụng các tài sản này để làm công cụ, phương tiện phạm tội, do đó trả lại cho T1theo quy định tại Điều 106 Bộ luật TTHS.

Đối với chiếc xe máy T và L dùng làm phương tiện phạm tội L đã bán cho người không quen biết hiện chưa thu giữ được, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ là đúng pháp luật

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên HĐXX không xét.

Đối với anh Lê Minh H và chị Lê Thị L là người đã mua tài sản các bị cáo T , L trộm cắp. Tuy nhiên khi mua tài sản này anh H chị L không biết đây là tài sản do T , L trộm cắp nên Cơ quan điều tra không xử lý anh H chị L hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là đúng pháp luật.

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016;

Bị cáo, người bị hại, người có QLNVLQ có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự (đối với Nguyễn Xuân T ).

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự (đối với Nguyễn Văn L )

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55; Điều 56 của Bộ luật hình sự (đối với Đỗ Thị T1)

- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Xuân T , Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo Đỗ Thị T1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/7/2022

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2022

Xử phạt bị cáo Đỗ Thị T 07 (bảy) tháng tù; Tổng hợp với hình phạt 01 tháng 04 ngày cải tạo không giam giữ (được chuyển đổi thành 11 ngày tù) chưa chấp hành của bản án bản án HSST số 95/2022/HSST ngày 15/3/2022 của TAND TP.Thanh Hóa, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 07 (bảy) tháng 11(mười một) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 106 BLTTHS. Sau khi án có hiệu lực pháp luật, trả lại cho bà Đỗ Thị T gồm: 01 kìm cộng lực đã cũ gỉ; 01 xe kéo tự chế cũ gỉ. Toàn bộ vật chứng trên hiện đang thu giữ tại Chi cục THADS thành phố Thanh Hóa theo “Biên bản giao nhận vật chứng” số 08/2023/THA ngày 26/10/2022 giữa Công an TPTH và Chi cục Thi hành án dân sự TPTH.

- Về bồi thường dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu, HĐXX không xét.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 99 BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Xuân T , Nguyễn Văn L , Đỗ Thị T1mối bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Xuân T , Nguyễn Văn L , Đỗ Thị T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Trịnh Đức N , anh Nguyễn Việt P , anh Lê Minh H , chị Lê Thị L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ