vanban.org

Bản án 44/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 09/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ăn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ lu t hình sự.

Tuyên bố: Lê Trọng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Lê Trọng H 08 (tám) tháng tù, th i hạn tù tính t ngày 10/4/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lê Trọng h - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? ăn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ lu t hình sự.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2022/HS-ST
Ngày: 09/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Minh Thư

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn uy

Bà Võ Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà ương Thị Thu Hư ng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2022 tại điểm cầu trung tâm Hội trư ng xét xử Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam ông an tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Lê Trọng H; giới tính: Nam; sinh ngày: 27/06/2000 tại: Huyện V, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Tổ dân phố 2, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Trọng và bà Phan Thị H; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ, tạm giam t ngày 10/04/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: hị Lê Thị Huyền T, sinh năm: 1992; nghề nghiệp: Kinh doanh; địa chỉ: Số 34 , đư ng H, tổ 8, phư ng T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. nh Nguyễn uy G, sinh năm 1975; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ: Số nhà 297, đư ng Hà Huy T p, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (có đơn xin vắng mặt).

2. hị Nguyễn Thị Hải Y, sinh năm 2003; nghề nghiệp: Sinh viên, lớp K14 , giáo dục tiểu học, khoa sư phạm, trư ng Đ (vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. nh Phan Văn T, sinh năm 1980; địa chỉ: Khối phố V, phư ng V, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).

2. hị Nguyễn Thị , sinh năm 1972; địa chỉ: Thị Trấn â, huyện , tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).

3. Anh Nguyễn Đình B, sinh năm 1996; địa chỉ: Thị Trấn , huyện , tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).

- Những người tham gia tố tụng khác: án bộ, chiến sỹ h trợ phiên tòa tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam ông an tỉnh Hà Tĩnh: Đ ng chí Nguyễn Văn Thế – Tổ trư ng; Đ/c Trần Nguyễn Minh Hiếu, Nguyễn Tiến Trọng - cán bộ d n giải, giám sát.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 gi ngày 09/04/2022, Lê Trọng H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner màu đen, biển kiểm soát: 38E1 – 083.27 của H đi đến quán Intetnet số 15 đư ng H thuộc phư ng T ,thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh để chơi điện tử. Do đang làm nhân viên của quán cà phê T địa chỉ số 34 đư ng H thuộc phư ng T,thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh nên H biết chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 38X1- 187.45 của chị Lê Thị Huyền T (sinh năm 1992, trú tại phư ng T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, là chủ quán) thư ng để trên vỉa hè đối diện quán, chìa khoá xe cắm sẵn để nhân viên giao hàng cho khách nên H nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô trên để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 18 gi 40 phút cùng ngày, H đi bộ đến quán cà phê T thì thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 38X1- 187.45 đang để trên vỉa hè có cắm sẵn chìa khóa. Quan sát xung quanh không có ai, H đi lại gần r i lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 38X1- 187.45 điều khiển r i đi. H đi đến cửa hàng mua bán xe máy cũ G địa chỉ số 297 đư ng H, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. H đi vào gặp anh Nguyễn uy G (sinh năm 1975, trú tại tổ dân phố 1, phư ng Nam Hà, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, là chủ cửa hàng) nói muốn cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 38X1- 187.45. H m cốp xe lấy giấy đăng ký chiếc xe mô tô trên đưa cho anh G và nói là xe của H mua của ngư i khác nhưng chưa tiến hành đăng ký lại tên mình nên anh G đ ng ý nh n cầm cố chiếc xe mô tô trên với giá 5.000.000 đ ng. Sau đó H đi taxi quay lại quán Internet lấy xe mô tô Honda Winner màu đen, biển kiểm soát: 38E1 – 083.27 r i điều khiển đi về phòng trọ. Sau khi phát hiện bị mất trộm xe mô tô và kiểm tra camera phát hiện Lê Trọng H đã trộm cắp chiếc xe trên nên chị Lê Thị Huyền T đã đến Công an thành phố H trình báo sự việc.

Bản kết lu n định giá tài sản số 14 ngày 14/04/2022 của Hội đ ng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố H xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 38X1-187.45 có trị giá 9.000.000 đ ng.

Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ tại tại Lê Trọng H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner màu đen biển kiểm soát: 38E1 – 083.27, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A37fw màu h ng trắng (bị cáo mượn của chị Nguyễn Thị Hải Y sinh năm 2003, trú tại xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh để sử dụng trước đó), 01 áo khoác màu đen và số tiền 5.000.000 đ ng; thu giữ tại anh Nguyễn Duy G 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh biển kiểm soát 38X1-187.45 kèm theo giấy chứng nh n đăng ký xe mô tô, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 ProMax màu vàng, 01 t giấy kẻ ngang A4 thể hiện nội dung việc cầm cố xe máy giữa Lê Trọng H với anh Nguyễn Duy G; thu giữ 02 USB được trích xuất t hệ thống camera giám sát an ninh tr t tự của ông an phư ng T và t camera của quán cà phê T. Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh biển kiểm soát 38X1-187.45 kèm theo giấy chứng nh n đăng ký xe mô tô đã trả lại cho ngư i bị hại chị Lê Thị Huyền T. Đối với 02 USB và 01 t giấy kẻ ngang A4 được chuyển kèm theo h sơ vụ án. Đối với những v t chứng còn lại được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H.

Về dân sự: Sau khi nh n lại tài sản bị mất chị Lê Thị Huyền T không yêu cầu b i thư ng gì thêm; anh Nguyễn Duy G có đơn không cầu Lê Trọng H trả lại số tiền 5.000.000 đ ng.

Bản cáo trạng số 44/CT-VKS-TPHT ngày 20/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố Lê Trọng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ lu t hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ nguyên quan điểm như nội dung cáo trạng truy tố; trong phần lu n tội và tranh lu n Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng điểm khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ lu t hình sự, xử phạt Lê Trọng H t 07 đến 10 tháng tù.

Về xử lý v t chứng:

Trả lại cho Lê Trọng H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner màu đen biển kiểm soát: 38E1 – 083.27; 01 áo khoác màu đen.

Trả lại cho chị Nguyễn Thị Hải Yến 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A37fw màu h ng trắng (bị cáo mượn của chị Yến sinh năm 2003, trú tại xã Cẩm Vịnh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh để sử dụng trước đó).

Trả lại cho anh Nguyễn Duy G 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 ProMax màu vàng.

Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 5.000.000 đ ng thu giữ tại bị cáo.

Tiếp tục lưu theo h sơ vụ án 01 t giấy kẻ ngang A4 thể hiện nội dung việc cầm cố xe máy giữa Lê Trọng H với anh Nguyễn Duy G; 02 USB được trích xuất t hệ thống camera giám sát an ninh tr t tự của ông an phư ng T và t camera của quán Cà phê T.

Bị cáo Lê Trọng H không có ý kiến tranh lu n. L i nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nh n định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của ơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và những ngư i tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của ơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. o đó, các hành vi, quyết định tố tụng của ơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp lu t.

Về chứng cứ xác định tội danh:

Xét l i khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, phù hợp với l i khai của bị hại, những ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; những ngư i làm chứng, phù hợp với các v t chứng vụ án bị thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong h sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, xác định được: Vào khoảng khoảng 18 gi 40 phút ngày 09/04/2022 tại vỉa hè đối diện trước quán Cà phê T địa chỉ số 34 đư ng H thuộc phư ng T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, Lê Trọng H đã trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 38X1-187.45, trị giá 9.000.000 đ ng của chị Lê Thị Huyền T r i đưa đến cửa hàng anh Nguyễn Duy G cầm cố lấy số tiền 5.000.000 đ ng để tiêu xài cá nhân. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vì v y, Hội đ ng xét xử, có đầy đủ căn cứ kết tội bị cáo Lê Trọng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ lu t hình sự.

Về các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo “Thành khẩn khai báo”; “Ph m tội l n đ u và thuộc tr ng h p t nghiêm trọng”; “B h i xin giảm nh hình ph t cho b cáo” nên bị cáo được hư ng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t hình sự.

Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Trọng H là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự liều lĩnh, không những đã xâm phạm đến quyền s hữu tài sản của ngư i khác được pháp lu t bảo vệ mà còn gây mất tr t tự trị an trên địa bàn, nên cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đ i sống xã hội một th i gian để cải tạo, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính khoan h ng của pháp lu t.

Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ lu t hình sự quy đ nh “Ng i ph m tội còn có thể ph t tiền từ 5.000.000 đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và l i khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy, bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nh p không ổn định. Vì v y, Hội đ ng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Anh Nguyễn Duy G là ngư i nh n cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 38X1-187.45 nhưng không biết xe do bị cáo Lê Trọng H trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự:

hị Lê Thị Huyền T sau khi nh n lại tài sản bị mất trộm không yêu cầu b i thư ng gì thêm; anh Nguyễn uy G không yêu cầu bị cáo b i thư ng số tiền 5.000.0000 đ ng cầm cố xe máy. Tòa miễn xét.

Về xử lý vật chứng:

ơ quan điều tra đã trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh biển kiểm soát 38X1-187.45 kèm theo giấy chứng nh n đăng ký xe mô tô cho ngư i bị hại chị Lê Thị Huyền T là phù hợp.

- ăn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ lu t hình sự; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ lu t tố tụng hình sự:

ần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 5.000.000 đ ng thu giữ tại Lê Trọng H t việc cầm cố chiếc xe mô tô trộm cắp được cho anh Nguyễn uy G.

Trả lại cho Lê Trọng H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner màu đen biển kiểm soát: 38E1 – 083.27; 01 áo khoác màu đen.

Trả lại cho chị Nguyễn Thị Hải Yến 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A37fw màu h ng trắng (bị cáo mượn của chị Yến sinh năm 2003, trú tại xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh để sử dụng trước đó).

Trả lại cho anh Nguyễn Duy G 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 ProMax màu vàng.

Tiếp tục lưu theo h sơ vụ án 01 t giấy kẻ ngang A4 thể hiện nội dung việc cầm cố xe máy giữa Lê Trọng H với anh Nguyễn Duy G; 02 USB được trích xuất t hệ thống camera giám sát an ninh tr t tự của ông an phư ng T và t camera của quán Cà phê T.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp lu t.

Xét lu n tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp lu t, về mức án đề nghị là phù hợp.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp lu t.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

ăn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ lu t hình sự.

Tuyên bố: Lê Trọng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Lê Trọng H 08 (tám) tháng tù, th i hạn tù tính t ngày 10/4/2022.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ lu t hình sự; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ lu t tố tụng hình sự:

- Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 5.000.000 đ ng thu giữ tại Lê Trọng H.

- Trả lại cho Lê Trọng H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner màu đen biển kiểm soát: 38E1 – 083.27; 01 áo khoác màu đen.

- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Hải Y 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A37fw màu h ng trắng (bị cáo mượn của chị Y sinh năm 2003, trú tại xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh để sử dụng trước đó).

- Trả lại cho anh Nguyễn Duy G 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 ProMax màu vàng.

- Tiếp tục lưu theo h sơ vụ án 01 t giấy kẻ ngang A4 thể hiện nội dung việc cầm cố xe máy giữa Lê Trọng H với anh Nguyễn Duy G; 02 USB được trích xuất t hệ thống camera giám sát an ninh tr t tự của ông an phư ng T và t camera của quán Cà phê T.

(Đặc điểm, tình trạng v t chứng thể hiện tại biên bản giao nh n v t chứng l p h i 14 gi 40 phút ngày 21/6/2022 giữa cán bộ Cơ quan điều tra ông an thành phố H và cán bộ hi cục Thi hành án dân sự thành phố H).

* Về án phí: ăn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ lu t tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội, buộc Lê Trọng H phải chịu 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án; bị hại, những ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể t ngày nh n được bản án hoặc kể t ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ