vanban.org

Bản án 44/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 29/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Lô Văn M phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lô Văn M phạm tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy" - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lô Văn M phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2022/HS-ST
Ngày 29 - 4 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Trần Thị Mỹ Hải.

Thẩm phán: bà Thái Thị Hồng Vân.

Các hội thẩm nhân dân: ông Phan Hải Thanh, ông Trần Mai Khanh và ông Võ Duy Bảo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà:

Ông Trần Hiếu Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2022/HSST ngày 15 tháng 3 năm 2022. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Lô Văn M, sinh ngày 27 tháng 9 năm 1984, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi thường trú: bản P, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lô Văn P (đã chết) và bà Lương Thị K; có vợ Lô Thị D và có 02 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị bắt, tạm giam từ ngày 08/11/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Lô Văn M: bà Nguyễn Thị Cẩm N, Luật sư của Văn phòng luật sư Thành Vinh, Đoàn luật sư tỉnh Nghệ An, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18h00 ngày 08/11/2021 Lô Văn M đang đứng chờ xe khách gần cổng Bệnh viện đa khoa huyện Q, tỉnh Nghệ An để ra thành phố Hà Nội làm thuê thì có một người phụ nữ (không rõ lai lịch địa chỉ) đi đến hỏi M chờ xe đi đâu thì M nói đi làm thuê ở Hà Nội, hỏi xong thì người phụ nữ này rời đi. Khoảng 10 phút sau người phụ nữ này quay lại đặt vấn đề thuê M vận chuyển ma túy đi Hà Nội với tiền công là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), M đồng ý. Người phụ nữ đưa trước cho M 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) và nói M đưa ba lô của M để người này lấy quần áo ra và bỏ vào ba lô 01 gái nilong màu đen chứa 06 bánh ma túy (Heroine) rồi đưa lại cho M. Sau đó người phụ nữ nói M đua điện thoại di động Samsung màu đơn của M cho người phụ nữ cầm và đưa lại cho M 01 điện thoại di động Nokia màu xanh đen và dặn M cầm ma túy ra đến Hà Nội thì gọi điện thoại vào số đã lưu trong máy thì người phụ nữ sẽ đến nhận rồi trả lại đồ đạc, điện thoại và đưa 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng) tiền công còn lại. Trong điện thoại di động mà người phụ nữ đưa, M thấy có lưu số điện thoại 0945454992 và số điện thoại xe khách đi tuyến Quế Phong - Hà Nội. Thỏa thuận xong, người phụ nữ rời đi còn M mang ba lô chứa ma túy lên xe khách Tam Sơn BKS: 99B-013.14 đi Hà Nội và ngồi ở hàng ghế thứ 03 sau ghế lại còn ba lô chứa ma túy để ở ghế bên cạnh. Đến khoảng 19h00 cùng ngày, khi xe khách đi đến khu vực ngã ba Truông Bành, thuộc xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an huyện Q kiểm tra, thu giữ trong ba lô của Lô Văn M có 06 khối chất bột màu trắng (nghi là ma túy)

Tại kết luận giảm định số 1496/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 15/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “06 (sáu) mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu từ M1 đến M6 thu giữa của Lô Văn M gửi đến giám định đều là ma túy (Heroine). Số chất bột màu trắng thu giữ của Lô Văn M có tổng khối lượng là 2.110,28 gam (Hai nghìn một trăm mười phẩy hai mươi tám gam).”

Quá trình điều tra Lô Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có tại hồ sơ vụ án.

Vật chứng vụ án: thu giữ của Lô Văn M gồm 06 bánh ma túy (Heroine) khối lượng 2.110,28 gam (đã lấy 90 gam gửi giám định còn lại 2.020,28 gam); 01 túi xách (kiểu ba lô) màu đen nhãn hiệu “Thủ đô vàng” có dây đeo, được thiết kế nhiều ngăn, mỗi ngăn có khóa kéo bằng kim loại màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh có số thuê bao 0328.531.783, vật chứng được bảo quản tại kho vật chứng Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Đối với số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) thu giữ của Lô Văn M được gửi bảo quản tại Kho bạc nhà nước Nghệ An tại biên bản giao nhận tài sản lập ngày 14/12/2021.

Tại Bản cáo trạng số 48/CT-VKS-P1 ngày 08/3/2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố Lô Văn M về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng Điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Lô Văn M tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt bổ sung: miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Về xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

- Về án phí: buộc các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết. Luật sư bào chữa cho bị cáo không tranh luận về tội danh, khung hình phạt; đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là người dân tộc, sống ở vùng M núi đặc biệt khó khăn đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo cơ hội sống.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh Nghệ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai nhận của bị cáo và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 08/11/2021 tại khu vực ngã ba T thuộc xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An, Lô Văn M có hành vì vận chuyển 06 bánh ma túy (Heroine) khối lượng 2.110,28 gam đi trên xe khách Tam Sơn BKS: 99B-013.14 từ huyện Q đi thành phố Hà Nội để giao cho một người phụ nữ (không rõ lại lịch địa chỉ) để nhận tiền công là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) thì bị Công an huyện Q phát hiện, bắt quả tang. Do đó, hành vi của bị cáo Lô Văn M đã phạm vào tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thấy được tác hại của mình gây ra nhưng vì hám lợi nên vẫn thực hiện để thu lợi bất chính, phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Ma túy là hiểm họa của nhân loại, làm suy thoái giống nòi, suy đồi đạo đức và là nguyên nhân gián tiếp làm phát sinh nhiều loại tội phạm, gây mất trật tự an ninh, ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người dân nên cần xử phạt nghiêm minh.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được xem xét, áp dụng khi quyết định hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Xét thấy, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, thực hiện vận chuyển ma túy có khối lượng lớn nên không có căn cứ chấp nhận lời bào chữa của Luật sư mà cần áp dụng hình phạt cao nhất là loại bỏ bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung, đồng thời góp phần giáo dục nâng cao nhận thức của người dân trong công tác phòng, chống tội phạm ma túy như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc, không có khả năng thi hành, cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Thu giữ của bị cáo M 2110,28 gam chất ma túy loại Heroine (đã lấy 90 gam gửi giám định, còn lại 2020,28 gam) ma túy là chất Nhà nước độc quyền quản lý và cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại theo quy định.

- Điện thoại di động thu giữ của bị cáo là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) thu giữ của Lô Văn M là số tiền thu lợi bất chính, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với người phụ nữ thuê M vận chuyển ma túy theo M khai, liên quan đến số điện thoại 0945454992. Cơ quan điều tra đã thu giữ điện tín, xác định chủ thuê bao tên Ngô Ánh Tuyết (sinh ngày 01/5/1981, trú tại Khóm Long Thị A, phường Long Hưng, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang). Căn cứ kết quả ủy thác điều tra, Cơ quan điều tra xác định Ngô Ánh Tuyết không liên quan đến vụ án này. Mặt khác, Lô Văn M khai không biết rõ nhân thân, lai lịch của người phụ nữ này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để tiếp tục xác minh làm rõ.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: bị cáo Lô Văn M phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 40 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lô Văn M tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tam giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy 2020,28 gam Heroine đựng trong hộp cát tông cùng bao bì niêm phong cũ;

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) ba lô màu đen đã qua sử dụng, có dây đeo nhãn hiệu Thủ Đô Vàng;

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh đã qua sử dụng.

Đặc điểm vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An ngày 10/3/2022.

- Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Theo Biên bản giao nhận tài sản số: 61/2021/BBBG-KBNA(VNĐ) ngày 14/12/2021 giữa đại diện Kho bạc nhà nước Nghệ An và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An.

3. Về án phí: căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lô Văn M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyến án. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền làm đơn xin ân giảm án tử hình lên Chủ tịch Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam./.

Cỡ chữ