vanban.org

Bản án 44/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Lai Châu Tuyên án 29/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ: điểm n khoản 1, khoản 4 Điều 123; Điều 39; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 47/BLHS. Điều 89; Điều 106; Điều 331; Điều 333/BLTTHS; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

[2] Tuyên bố bị cáo Vừ Thị D phạm tội “Giết người”. Xử phạt bị cáo Vừ Thị D mức án tù chung thân; thời hạn tính từ ngày bắt 13/12/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vừ Thị D, thụ lý số 39/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2022 - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ: điểm n khoản 1, khoản 4 Điều 123; Điều 39; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 47/BLHS. Điều 89; Điều 106; Điều 331; Điều 333/BLTTHS; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2022/HS-ST
Ngày: 29-7-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Long

Thẩm phán: Ông Bùi Ngọc Bính

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Hà Thị Nở

- Bà Nguyễn Thị Như Quỳnh

- Ông Hoàng Văn Thắng

- Thư ký phiên tòa ông Lê Tiến Dũng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hùng Khánh - Kiểm sát viên trung cấp; giúp việc cho ông Nguyễn Hùng Khánh là ông Vũ Đức Hoàng - Kiểm sát viên sơ cấp.

Trong ngày 29 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm, công khai án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2022. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2022/QĐXXST-HS ngày 15/7/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vừ Thị D; Tên gọi khác: không; Sinh năm: 1977 tại tỉnh Lai Châu.

Nơi cư trú: Bản Háng Lìa Hồng Thứ, xã Tủa Sín Chải, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Đạo tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vừ Vả C (đã chết) và bà Giàng Thị D1 (đã chết); Bị cáo chung sống như vợ chồng với Sùng Nhìa C1 (sinh năm 1980, là bị hại trong vụ án) và có 05 con (con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2011); Gia đình bị cáo có 06 anh em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2021cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo:

1. Ông Nguyễn Công Hưởng - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu. (Có mặt)

2. Ông Nguyễn Xuân Oánh – Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Lai Châu, ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý. (Có mặt)

* Bị hại

- Ông Sùng Nhìa C1

sinh năm: 1980

Địa chỉ: Bản Háng Lìa Hồng Thứ, xã Tủa Sín Chải, huyện Sìn Hồ, tỉnh

Lai Châu. (Đã chết)

Đại diện bị hại: Ông Sùng A D2

sinh năm: 1997 (con trai bị hại)

Địa chỉ: Bản Háng Lìa Hồng Thứ, xã Tủa Sín Chải, huyện Sìn Hồ, tỉnh

Lai Châu. (Có mặt)

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Sùng Thị M; Sùng A C3; Sùng Thị C4; Sùng A T (D3)

Ông: Sùng A D2 sinh năm: 1997

Địa chỉ: Bản Háng Lìa Hồng Thứ, xã Tủa Sín Chải, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. (Có mặt)

* Người làm chứng

1. Sùng Thị C4

sinh năm 2008 (Có mặt)

2. Sùng A T (D3)

sinh năm 2011 (Có mặt)

3. Lý Thị B

sinh năm 1998 (Vắng mặt có lý do)

4. Lầu Thị S

sinh năm 1984 (Vắng mặt có lý do)

5. Vừ Thị I

sinh năm 1976 (Vắng mặt có lý do)

Đại diện theo pháp luật của người làm chứng (Sùng Thị C4; Sùng A T) là ông Sùng A D2 (sinh năm: 1997) (Có mặt)

Đều cùng địa chỉ: Bản Háng Lìa Hồng Thứ, xã Tủa Sín Chải, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

* Người phiên dịch tại phiên tòa:

Ông Giàng A H

sinh năm 1999

Địa chỉ: tổ 12, phường Đoàn Kết, thành phố Lai Châu, Lai Châu. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 07 giờ 30 phút ngày 12/12/2021 Công an xã Tủa Sín Chải, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tiếp nhận nguồn tin báo về tội phạm qua số điện thoại 0383695997 của anh Lý A S1 (sinh năm 2001, địa chỉ: bản Háng Lìa Hồng Thứ, xã Tủa Sín Chải, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu) về việc ông Sùng Nhìa C1 (sinh năm 1980, địa chỉ: bản Háng Lìa Hồng Thứ, xã Tủa Sín Chải, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu) chết không rõ nguyên nhân, gia đình nghi ngờ ông C1 bị hại chết; đồng thời cùng thời gian này vợ ông C1 là bà Vừ Thị D (sinh năm 1977) không có mặt, gia đình không biết đi đâu, làm gì.

Ngày 13/12/2021 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lai Châu nhận được đơn xin đầu thú của Vừ Thị D (sinh năm 1977, địa chỉ: bản Háng Lìa Hồng Thứ, xã Tủa Sín Chải, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu) với nội dung: “D và C1 là vợ chồng, thời gian 3 năm gần đây C1 thường xuyên chửi, đánh đập nên ngày 11/12/2021 D đã cho C1 uống thuốc lá ngón dẫn đến C1 tử vong”.

Tại cơ quan điều tra D khai nhận: Khoảng tháng 11/2021 D cùng con gái Sùng Thị C4 (sinh năm 2008) đi lấy rau lợn tại khu vực rừng tái sinh thuộc xã Nậm Mạ, huyện Sìn Hồ. Khi đi D mang theo 01 lu cở bằng nhựa màu đỏ; 01 chiếc liềm bằng kim loại; 01 bao tải xác rắn màu vàng; 01 chiếc cuốc lưỡi bằng sắt. D và C4 đi xuống khu vực lòng hồ và đi thuyền của gia đình sang khu vực rừng tái sinh. Khi đi đến nương giáp ranh rừng tái sinh, D nhìn thấy bụi cây lá ngón nên nảy sinh ý định lấy cây lá ngón đem về đun nước cho chồng là Sùng Nhìa C1 uống cho chết vì trong quá trình sinh sống C1 thường xuyên đánh D. D đi đến bụi lá ngón dùng liềm cắt phần ngọn cây, dùng cuốc đào xung quanh gốc, do vướng phải đá nên D tiếp tục dùng liềm cào xung quanh gốc rồi dùng tay kéo được một đoạn gồm cả gốc và rễ, D gập đôi cho vào bao tải mang về nhà cất ở góc nhà bên trái. Khi D đào cây lá ngón, C4 đứng bên cạnh nhìn thấy. Ngày hôm sau D mang đoạn gốc và rễ cây lá ngón rửa sạch và cho vào chiếc ấm đun nước đun lên cho đến khi nước trong ấm chuyển sang màu nâu, D bỏ ra để nguội rồi cho vào một chai nhựa không nhãn mác, có nắp màu xanh, loại 500ml, Dợ giấu đằng sau chạn bát; Dợ mang vứt bã cây ở bụi tre bên cạnh nhà. Một ngày đầu tháng 12/2021 (không nhớ ngày) D có nói cho chị gái Vừ Thị I (sinh năm 1976, trú tại bản Háng Lìa Hồng Thứ, xã Tủa Sín Chải, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu) biết ý định của mình tại nhà I.

Ngày 10/12/2021 sau khi đi bán cây thuốc ở thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên về giữa D và C1 có mâu thuẫn, mặt khác Chức kêu đau bụng. Sáng 11/12/2021 C1 nói bị cảm và bảo D đi tìm cây diếp cá về đun nước cho C1 uống để giải cảm, Sau khi đi lấy cây diếp cá về D thấy có cơ hội giết C1, D rửa sạch cây diếp cá cho vào ấm đun nước rồi lấy chai nước cây lá ngón đã chuẩn bị từ trước đổ 2/3 nước trong chai vào đun cùng cây diếp cá, chỗ còn lại D cất vào chỗ cũ. Sau khi đun sôi D bỏ ấm nước sang bên cạnh để nguội rồi rót bát nước (nước cây lá ngón đun với cây diếp cá) mang cho C1 uống, lúc này C1 đang nằm trên giường nên D để bát nước vào tay C1 rồi ra cột nhà lấy viên thuốc cảm đưa cho C1 uống nhưng C1 không uống, D mang viên thuốc ra cửa chính vứt đi, khi quay lại thấy C1 đã uống hết bát nước, C1 kêu khát, D lấy bát rót thêm ½ bát nước (nước cây lá ngón đun với cây diếp cá) đưa cho C1, C1 uống hết bát nước, sau đó D cầm liềm đi lấy rau lợn. Khoảng 30 phút sau thì con dâu Lý Thị B gọi về, về đến nhà khi đó có B, T ở nhà, C1 đang nằm ngửa dưới nền nhà chân đạp đổ ấm nước, D nghĩ C1 đã bị ngộ độc cây lá ngón. Khi B đi gọi S, D đưa chai nước lá ngón cho T mang vứt đi sau đó mọi người giã nghệ cho C1 uống và đánh cảm cho C1, một lúc sau thì C1 tử vong. Sau khi con trai Sùng A D2 về có chửi D, sợ mọi người phát hiện ra C1 chết là do D cho uống nước cây lá ngón nên sáng sớm ngày 12/12/2021 D bỏ lên rừng tìm lá ngón ăn để tự tử, chiều cùng ngày được mọi người phát hiện và đưa đi cấp cứu, sau khi suy nghĩ về việc làm của mình D đã ân hận và nhờ người viết đơn đầu thú về hành vi của mình.

Căn cứ lời khai của D, cơ quan điều tra triệu tập những người làm chứng, tại cơ quan điều tra những người làm chứng khai nhận:

Sùng Thị C4 khai: Khoảng tháng 11/2021 (không nhớ ngày) C4 cùng mẹ (D) đi lấy rau lợn ở khu vực thuộc xã Nậm Mạ huyện Sìn Hồ đúng như lời khai của D. Sau khi thấy D lấy rễ và thân cây lá ngón C4 có hỏi là lấy để làm gì, D có nói là để khi nào bố đánh thì sẽ lấy cho bố uống, thấy mẹ nói thế C4 đã khóc. Sau đó D bỏ rễ và thân cây lá ngón vào bao tải xác rắn màu vàng mang theo và đi về, về nhà C4 không biết D đã làm như thế nào. Đến sáng ngày 11/12/2021 C4 dậy sớm đi lấy củi thì có nghe D nói đi lấy cây diếp cá về đun cho bố uống, sau đó C4 đi lấy củi. Trong quá trình sinh sống bố và mẹ thường xuyên mâu thuẫn cãi chửi nhau, tuy nhiên bố chưa đánh mẹ bao giờ.

Sùng A T (D3) khai: Khoảng 09 giờ ngày 11/12/2021 khi đang chơi cùng bạn phía sau nhà thì nghe tiếng bố (C1) gọi, T chạy về đến nhà thấy bố đang nằm ngửa dãy dụa dưới đất (đầu quay ra cửa chính, chân quay về phía bếp), chị B đi gọi mẹ (D), sau đó gọi chị S, còn T và mẹ ở trong nhà, mẹ lấy một chai nhựa màu trắng không nhãn mác, bên trong có một ít nước màu đỏ, nắp màu xanh phía sau chạn bát bảo tôi mang vứt đi sợ tí người ta thấy, T cầm chai nước đi ra cửa phụ và vứt ở rừng cây cạnh nhà rồi quay vào trong nhà. Bố mẹ thường xuyên cãi nhau, đều do mẹ là người chửi mắng bố, mẹ chửi mắng nhiều bố mới chửi lại, chưa bao giờ đánh nhau, mẹ hay bỏ đi và chính quyền chưa phải giải quyết lần nào.

Lý Thị B khai: Bầu về làm dâu từ năm 2014, đến năm 2019 ra ở riêng giáp nhà bố mẹ chồng, khoảng 6 ngày trước khi ông C1 chết, D trốn khỏi nhà do mâu thuẫn với ông C1. Ngày 10/12/2021 hai vợ chồng cùng bố mẹ và em gái tôi Lý Thị S1 đi Mường Lay, trên đường đi thuyền về nhà ông C1 kêu đau bụng. Khoảng 10 giờ sáng 11/12/2021 B đang ở nhà thấy ông C1 kêu bất thường nên chạy sang, thấy T đang ở trong nhà, ông C1 lăn lộn dưới đất trong bếp, B hốt hoảng không biết làm gì chạy ra ngoài hiên gọi D, khi D về B đi gọi chị Lầu Thị S (hàng xóm) sang xem và cấp cứu ông C1, B và chị S lấy gừng xoa vào cổ ông C1, được một lúc không thấy động đậy mới biết ông C1 đã chết. Không biết nguyên nhân, thấy ấm đun nước đổ ra vỏ cây thuốc nhưng ko biết thuốc gì.

Lầu Thị S khai: Khoảng 10 giờ ngày 11/12/2021 tôi đang ở nhà thì B gọi, S chạy sang thấy B đang đứng trên mỏm đá, bà D đứng ở hiên trước nhà. S, B, D cùng vào nhà thấy ông C1 nằm nghiêng về bên trái, đầu hướng ra cửa, chân hướng về phía bếp, mắt nhắm và thở gấp. Do không biết làm thế nào S bảo B gọi cho chồng S là Sùng Sinh V, V hướng dẫn B cho uống nghệ đen và kéo cảm (đánh cảm), S chạy đi tìm nghệ đen mang về đập dập cho C1 uống nhưng ông C1 không uống, S và B giật cảm được một lúc thì B nói bố chết rồi nên không giật nữa. Trong quá trình sinh sống ông C1 và bà D thường xuyên mâu thuẫn, cãi cọ nhau.

Vừ Thị I khai: Đầu tháng 12/2021 D đến nhà và có nói khi nào chồng (C1) đánh thì D nấu món ngon ngon để cho C1 uống cho C1 chết đi, I có khuyên D đừng làm như thế vì các con còn nhỏ. D nói thường xuyên bị C1 đánh nhưng I kiểm tra người thì không có vết thương nào. Việc C1 và D mâu thuẫn I chỉ nghe nói vì nhà ở xa nhau nên không biết.

Lý A S1 khai: Khoảng 14 giờ ngày 11/12 nhận được tin báo của V (1996, cháu họ C1) báo về việc C1 chết tại nhà, do đang đi xẻ gỗ làm nhà nên tôi bảo V xem việc xảy ra như thế nào thì báo lại. Khoảng 19 giờ cùng ngày, V gọi điện yêu cầu cơ quan chức năng khám nghiệm, điều tra làm rõ cái chết của C1, S1 báo cáo sự việc với công an xã. Khoảng 21 giờ S1 đến nhà thấy thi thể anh C1 đã được mọi người mặc quần áo và đặt nằm trên cái ghế giường nằm cạnh bếp. S1 hỏi thì D trả lời C1 bị bệnh chết. Hỏi D2 thì được biết C1 bị đau bụng từ hôm trước (10/12) khi đi thị xã Mường Lay, về đến nhà vẫn đau và có bảo D đi đun thuốc cho uống nhưng D2 không biết D đun thuốc gì. Sáng 12/12 S1 sang nhà thì V cho biết bà D bỏ trốn từ khoảng 4 giờ sáng, S1 gọi điện thông báo cho Công an xã Tủa Sín Chải và cùng mọi người đi tìm nhưng không thấy. Khoảng 14 giờ nhận được tin của Sùng Chớ H về việc có người thấy D đang ở trên núi nên S1 cùng P, Sùng A C5 (1997), H và một số người nữa lên khu vực đồi Hua Nhè (cách bản 1km) thì tìm thấy D, Sài hỏi D bằng tiếng dân tộc có ăn lá ngón không, D nói có ăn một ít lá ngón, sau đó S1 cùng mọi người đưa D về. Về đến nhà S1 hỏi D có phải nấu lá ngón cho C1 uống không, D nói đun để uống nhưng chưa kịp uống thì C1 đã uống trước.

Sùng A D2 khai: Khoảng 12h ngày 11/12/2021 D2 từ chợ trung tâm bản về nhà nghe vợ (B) nói lại thì chạy sang nhà thấy bố (C1) đã chết nằm ngửa dưới đất, đầu quay ra cửa chính, chân quay về phía bếp (sự việc trước đó chỉ nghe vợ kể lại). Chiều 12/12 khi mọi người đưa D về (D bỏ đi từ sáng), D2 có nghe Lý A S1 (công an viên) hỏi D bằng tiếng dân tộc Mông “đã cho chồng uống gì”, D trả lời “có đun lá ngón để uống nhưng chưa kịp uống thì chồng uống rồi” lúc đó Sùng Sánh P, Sùng Chớ H cũng có mặt và nghe thấy.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và căn cứ lời khai của Vừ Thị D, cơ quan điều tra đã truy tìm và thu giữ được toàn bộ vật chứng liên quan đến vụ án.

Kết luận giám định pháp y tử thi số 03/PY-KTHS (BL119-121), ngày 10/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu, kết luận: Nguyên nhân chết là do suy hô hấp, suy tuần hoàn do trúng độc Alcaloid của cây lá ngón; Thời gian chết 18 giờ so với thời điểm khám nghiệm tử thi; Trong phủ tạng và trong máu của tử thi Sùng Nhìa C1 tìm thấy chất Alcaloid của cây lá ngón; Không phát hiện tổn thương do tác động ngoại lực, trên tử thi có một số vết sây sát da nằm rải rác ở vùng mặt, tay, chân, bầm tụ máu vùng ngực được xác định do gia đình đánh cảm; không đủ cơ sở xác định vật gây thương tích.

Kết luận giám định pháp y về hóa pháp số 17/26/38-39/22/ĐC (BL123) ngày 20/12/2021 của Viện pháp y quốc gia kết luận: Trong mẫu phủ tạng, máu và tang vật vụ Sùng Nhìa C1, sinh năm 1980 do Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Lai Châu gửi tới giám định ngày 14/12/2021: Có tìm thấy Alcaloid của cây lá ngón; không tìm thấy các chất độc khác.

Kết luận giám định pháp y bổ sung về hóa pháp số 18/29/45-46/22/ĐC (BL128) ngày 20/12/2021 của Viện pháp y quốc gia kết luận: Mẫu tang vật do Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Lai Châu gửi tới giám định bổ sung ngày 16/12/2021: Có tìm thấy Alcaloid của cây lá ngón; không tìm thấy các chất độc khác.

Kết luận giám định pháp y về mô bệnh học số 13/22/MBH (BL131) ngày 06/01/2022 của Viện pháp y quốc gia kết luận: Não: Phù, sung huyết, chảy máu màng mềm đại não, chảy máu thoát quản nhu mô não; Tim: Phù, sung huyết, một số tế bào viêm trong lòng mạch, động mạch vành xơ vữa, tăng sinh xơ mô kẽ cơ tim; Phổi: Phù, sung huyết, nhiều tế bào biểu mô phế quản bong, xâm nhập viêm quanh thành phế quản và lòng mạch máu; Thực quản: Phù, sung huyết, xâm nhập viêm hạ niêm mạc; Dạ dày: Phù, sung huyết, xâm nhập tế bào viêm; Gan: Sung huyết, xâm nhập viêm mạn tính, tế bào gan thoái hóa; Tuyến thượng thận: Mô xung quanh tuyến phù, sung huyết, chảy máu; Thận: Phù, sung huyết; Mô liên kết thưa: Phù, sung huyết, chảy máu, xâm nhập một ít tế bào viêm quanh mạch.

Kết luận giám định pháp y về thương tích số 126/BKL-TTPY (BL144-145) ngày 27/12/2021 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Lai Châu kết luận: Hiện tại trên cơ thể Vừ Thị D không có vết thương tích nào; Tỷ lệ tổn thương hiện tại là 0%.

Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKSLC-P1 ngày 06/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy tố Vừ Thị D về tội: “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng về tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo. Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; là người dân tộc thiểu số, không được đi học, nhận thức pháp luật hạn chế, sinh sống ở nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về hình phạt: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm n khoản 1, khoản 4 Điều 123; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS. Xử phạt: bị cáo Vừ Thị D từ 16 đến 18 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng đã thu giữ.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xem xét cho Vừ Thị D được hưởng mức án thấp của khung hình phạt; hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo đặc biệt khó khăn nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo không bổ sung gì và nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến gì với quyết định truy tố và tranh luận với Viện kiểm sát.

Đại diện bị hại về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bị cáo bồi thường; về hình phạt, đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo mức án Chung thân

Đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đề nghị gì.

Tại lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình bị xét xử hôm nay là đúng người, đúng tội, không oan sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lai Châu, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, người bào chữa, đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ khác, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định, kết quả thực nghiệm điều tra cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do có suy nghĩ Sùng Nhìa C1 (người chung sống với mình như vợ chồng từ năm 1996, không đăng ký kết hôn và có 05 con chung) không biết làm ăn và kiếm tiền như người khác, dẫn đến một số lần cãi nhau nên cuối tháng 11/2021 trong khi đi lấy rau cho lợn do nhìn thấy cây lá ngón, Vừ Thị D đã nảy sinh ý định lấy cây lá ngón về đun nước cho Sùng Nhìa C1 uống cho C1 chết. D đã đào phần rễ và một phần thân cây lá ngón mang về nhà đun lấy nước và cất giấu chờ cơ hội giết C1. Đến khoảng 08 giờ ngày 11/12/2021 tại nhà mình (bản Háng Lìa Hồng Thứ, xã Tủa Sín Chải, huyện Sìn Hồ) lợi dụng C1 bị ốm, thấy cơ hội đến nên Vừ Thị D đi lấy cây diếp cá về đun với nước cây lá ngón (đã chuẩn bị từ trước) cho C1 uống dẫn đến Sùng Nhìa C1 chết do suy hô hấp, suy tuần hoàn do ngộ độc Alcaloid của cây lá ngón.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng và quyền được sống của người khác được pháp luật bảo vệ, mặt khác còn gây ảnh hưởng tới trật tự, trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình dùng nước của cây lá ngón cho C1 uống sẽ dẫn đến cái chết của C1 là vi phạm pháp luật nghiêm trọng, vì suy nghĩ nhỏ nhen của mình, bất chấp hậu quả xảy ra, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người chung sống như vợ chồng và là bố các con bị cáo.

Hậu quả việc thực hiện hành vi của bị cáo dẫn đến Sùng Nhìa C1 bị chết do bị ngộ độc chất Alcaloid của cây lá ngón.

Chứng cứ buộc tội của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu, kết luận bị cáo Vừ Thị D phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, thể hiện ở việc chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo lại là người dân tộc thiểu số, trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế; cư trú tại địa bàn có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn; HĐXX cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS cho bị cáo. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, do đó cần phải có một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi bị cáo thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội vĩnh viễn để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc hộ nghèo, sinh sống ở vùng đặc biệt khó khắn nên không áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 4 Điều 123 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã chết, đại diện cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra và tại phiên tòa không yêu cầu bồi thường do đó HĐXX không xem xét.

Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo từ 16 đến 18 năm tù nhẹ, không tương xứng với với hành vi phạm tội bị cáo gây ra vì vậy HĐXX chấp nhận một phần.

Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 89, Điều 106/BLTTHS tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 lu cở bằng nhựa màu hồng; 01 con dao liềm có cán bằng gỗ; 01 áo sơ mi màu xanh kẻ sọc; 01 áo phông cộc tay, cổ tròn màu đen; 01 quần dài màu xanh; 01 ấm đun nước màu đen; 01 chai nhựa có nắp màu xanh, không nhãn mác; 01 đoạn cây gồm cả thân và rễ; 01 đoạn cây dài 22cm; 01 rễ cây dài 28cm; 01 mẫu đất; 01 mẫu bã gồm thân và rễ cây; 01 mẫu thân và lá cây đã khô.

Về án phí: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ: điểm n khoản 1, khoản 4 Điều 123; Điều 39; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 47/BLHS. Điều 89; Điều 106; Điều 331; Điều 333/BLTTHS; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

[2] Tuyên bố bị cáo Vừ Thị D phạm tội “Giết người”.

Xử phạt bị cáo Vừ Thị D mức án tù chung thân; thời hạn tính từ ngày bắt 13/12/2021.

Tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

[3] Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 lu cở bằng nhựa màu hồng; 01 con dao liềm có cán bằng gỗ; 01 áo sơ mi màu xanh kẻ sọc; 01 áo phông cộc tay, cổ tròn màu đen; 01 quần dài màu xanh; 01 ấm đun nước màu đen; 01 chai nhựa có nắp màu xanh, không nhãn mác; 01 đoạn cây gồm cả thân và rễ cây; 01 đoạn cây dài 22cm; 01 rễ cây dài 28cm; 01 mẫu đất; 01 mẫu bã gồm thân và rễ cây; 01 mẫu thân và lá cây đã khô.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh Lai Châu với Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Lai Châu được lập vào hồi 15 giờ 30 phút, ngày 06 tháng 7 năm 2022)

[4] Án phí hình sự: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo; Đại diện bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ