vanban.org

Bản án 44/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 11/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Văn C phạm tội “Giết người”;

Áp dụng: khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 Xử phạt bị cáo Phan Văn C 05 (Năm) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 04/8/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn Còn - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Văn C phạm tội “Giết người”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KIÊN GIANG
[

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2022/HS-ST
Ngày: 11-5-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thái Ngọc Minh

Bà Trần Thị Ngọc Trân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/TLST-HS ngày 18 tháng 03 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2022/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Phan Văn C, sinh năm 1982 tại Kiên Giang. Nơi cư trú: Ấp NVT, xã TL, huyện GR, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam, tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam, con ông PVT và bà NTL; anh em có 03 người, lớn sinh năm 1978, bị cáo nhỏ nhất; vợ Nguyễn Thị Trúc L; con 02 người, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bắt quả tang và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/8/2021 cho đến nay. (Có mặt)

- Người bị hại:

Ông Trình Thanh T, sinh năm 1994 (Chết)

- Đại diện theo pháp luật của bị hại:

1.Ông Trình Việt T, sinh năm 1968 (Cha bị hại có mặt)

2.Bà Lê Thị H, sinh năm 1969 (Mẹ bị hại có mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp TT, xã TL, huyện GR, tỉnh Kiên Giang.

3. Bà Thị Trúc K, sinh năm 1999 (Vợ bị hại có mặt)

Đại chỉ: Ấp TY, xã BT, huyện GR, tỉnh Kiên Giang.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1985 (Vợ bị cáo có mặt)

Địa chỉ: Ấp NVT, xã TL, huyện GR, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân Phan Văn C làm ruộng tại ấp NVT, xã TL, huyện GR, tỉnh Kiên Giang, do bị chuột cắn phá ruộng lúa của mình nên vào ngày 03/8/021 C dụng bộ kích điện (xiệt chuột) kết nối với bình ắc quy, sau đó kết nối với dây chì giăng theo ruộng để giết chuột. Đến khoảng 19 giờ 20 phút , ngày 03/8/2021 Phan Văn C đi ra thăm rộng thì phát hiện anh Trình Thanh T – sinh ngày : 18/9/1994, cư trú: ấp TT, xã TL, huyện GR, tỉnh Kiên Giang nằm bất động dưới ruộng lúa, một tay đang nắm dây chì mà Phan Văn C dùng để giăng xiệt chuột nên Phan Văn C đi vào tắt hệ thống xiệt chuột và phát hiện anhT đã tử vong nên đến Cơ quan Công an đầu thú toàn bộ hành vi phạm tội của mình, ngày 04/8/2021 bị tạm giữ. Đến ngày 05/8/2021, Phan Văn C bị Cơ quan Cảnh sát điều tra tỉnh Kiên Giang khởi tố về hành vi Giết người và chuyển tạm giam đến nay.

*Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 788/KL-KTHS ngày 03/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận:

1. Các kết quả chính:

- Trên người nạn nhân có vết bỏng cháy da, chai cứng màu nâu – đen tại các vị trí: Mặc lòng đốt gần ngón II, mặt lòng đốt giữa ngón III, IV, V bàn tay trái; Mặt sau 1/3 trên cẳng chân phải và mặt sau ngoài 1/3 dưới đùi trái.

- Hai phổi phù, sung huyết và xuất huyết rải rác.

- Cơ tim sung huyết rải rác. Buồng tim hai bên có máu loãng.

- Gan, lách và thận sung huyết.

- Bản án kết luận giám định pháp y về mô bệnh học, gồm các tổn thương:

+ Bỏng da do điện.

+ Phù phổi cấp.

+ Các tạng sung huyết.

2. Nguyên nhân chết: do điện giật.

3. Cơ chế hình thành thƣơng tích: Vết thương bỏng cháy da trên người Trình Thanh T có dặc điểm là vết thương bỏng da do tiếp xúc với vật mang điện.

*Tại Bản kết luận giám định pháp về mô bệnh học số 04.369/MBH-21

ngày 24/9/2021 của Trung tâm pháp y thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- Bỏng da do điện.

- Phù phổi cấp.

- Các tạng sung huyết.

*Vật chứng vụ án gồm:

- 01(một) bình ắc quy, võ bọc nhựa màu trắng, bên hông bình có dòng chữ

Đồng Nai 12v-40AH;

- 01(một) bình ắc quy, võ nhựa màu trắng, bên hông bình có chữ TRY;

- 01(một) bộ kích điện, được để trong hộp nhựa màu trắng kích thước 21cm x 13cm, cao 10cm, nắp đậy màu vàng, đầu vào được kết nối với 02 sợi dây điện màu vàng và 02 kẹp kim loại, đầu ra được kết nối với 02 sợi dây màu đỏ;

- 01(một) bộ kích điện kích thước 10cm x 16cm x 6m đầu vào kết nối dây điện màu đỏ, dây điện màu xanh và kẹp kim loại, đầu ra kết nối với hai sợi điện màu đỏ;

- Nhiều đoạn dây kim loại đường kính 0,05cm.

- 48(bốn mươi tám) cọc gỗ tre kích thước không đều nhau;

- 01(một) võ nhựa màu xanh kích thước 38cm x 30cm x 26cm;

- 01(một) đoạn gỗ trúc dài 1,53cm, đường kính 2,2cm và 1,6cm, đầu đường kính 1,6cm có gắn một đoạn kim loại dài 23cm đường kính 0,6cm, đoạn kim loại này kết nối với dây điện màu vàng;

Tất cả đã nhập kho vạt chứng số 04, ngày 09/02/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kiên Giang.

Tại bản cáo trạng số: 21/CT-VKSTKG-P2 ngày 15/03/2022 của Viện kiểm sát nhân tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Phan Văn C về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa tranh luận và luận tội: Bị cáo Phan Văn C do ý thức tự tin không nghĩ đến hậu quả xảy ra đã dùng kích điện nối với dây chì giăng xung quanh đất ruộng để diệt chuột dẫn đến hậu quả làm anh Trình Thanh T bị vướng vào dây chì điện giật tử vong. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 BLHS, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, thành khẩn khai báo, khắc phục hậu quả; đầu thú và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo mức án từ 04 đến 05 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vợ bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 50.000.000đ tiền mai táng phí, phía bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường thêm mai tang phí nhưng có yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường tiền tổn thất tinh thần và cáp dưỡng nuôi con bị hại 200.000.000đ. Bị cáo đồng ý bồi thường đề nghị HĐXX ghi nhận.

Ý kiến người bị hại: Phần mai táng phí bị cáo đã bồi thường xong. Phần C lại tiền tổn thất tinh thần và tiền cấp dưỡng nuôi con bị hại yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường 200.000.000đ. Các đại diện bị hại thỏa thuận tại tòa cha mẹ bị hại đại diện nhận 80.000.000đ, vợ bị hại đại diện nhận 120.000.000đ.

Ý kiến vợ bị cáo: Số tiền 50.000.000đ bồi thường thay cho bị cáo và xin HĐXX xử nhẹ cho bị cáo.

Bị cáo không có tranh luận gì với Viện kiểm sát và nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại và xin HĐXX xử nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Kiên Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Phan Văn C khai nhận, phía sau nhà bị cáo làm ruộng (trồng lúa) bị chuột cắn phá nên chiều tối ngày 03/8/2021 bị cáo dùng bộ kích điện kết nối với bình ắc quy rồi kết nối với dây chì giăng theo xong quanh ruộng để giết chuột. Sau khi giăng xong bị cáo vào nhà ăn cơm khoảng 20 phút sau quay lại thì phát hiện anh Trình Thanh T nằm chết dưới ruộng lúa tay C cầm dây chì mà bị cáo giăng bẩy chuột nên bị cáo vào nhà cho mọi người hay sau đó đến Công an đầu thú. Xét lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với diễn biến vụ án, lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa, giám định pháp y tử thi và giám định pháp y về mô bệnh học đều kết luận nguyên nhân chết của bị hại là do điện giật. Với hành vi dùng kích điện nối với bình ắc quy và nối vào dây chì (là loại dây dẫn điện) để giăng xung quanh ruộng làm bẩy diệt chuột của bị cáo Phan Văn C dẫn đến hậu quả làm người bị hại mắc vào bị điện giật dẫn đến tử vong như trên của bị cáo là đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 123 BLHS nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Trong vụ án này, bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý gián tiếp, mặc dù không có động cơ, mục đích tước đoạt mạng sống của bị hại với hành vi dùng dây chì là loại kim loại mềm có tính dẫn diện cao nối vào thiết bị kích điện dẫn chuyền nguồn điện 255V từ bình ắc quy để giăng quanh ruộng lúa mà không có bất cứ sự cảnh báo hoặc canh giữ nào thì hậu quả nếu có người chạm vào sẽ bị điện giật chết là tất yếu, bị cáo bắt buộc phải biết đều này. Thực tế việc xiệt chuột bằng biện pháp này là hết sức nguy hiểm và bị nghiêm cấm, đã rất nhiều lần hậu quả chết người đã xảy ra nhưng vì quá tự tin, nghĩ rằng sẽ không có gì xảy ra bị cáo đã gây ra cái chết thương tâm cho người bị hại. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, cho nên phải bị truy tố và xét xử theo quy định. Trên cơ sở đánh giá toàn diện vụ án, các tình tiết giảm nhẹ cũng như quan điểm đề nghị của Viện kiềm sát, đại diện bị hại, HĐXX cần quyết định một mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để răn đe giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội đã ra đầu thú và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội; tác động gia đình bồi thường thiệt hại và đại diện bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51, nên Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

Về quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát: Về tội danh; hình phạt; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm bồi thường: Gia đình bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thêm tiền tổn thất tinh thần và cấp dưỡng nuôi con bị hại 200.000.000đ. Bị cáo đồng ý bồi thường, đồng thời đại diện bị hại cũng tự thỏa thuận trong số tiền 200.000.000đ thì cha mẹ bị hại nhận số tiền 80.000.000đ tiền tổn thất tinh thần, C lại 20.000.000đ tiền tổn thất tinh thần và 100.000.000đ tiền cấp dưỡng nuôi con bị hại do vợ bị hại nhận. Xét thấy sự tự thỏa thuận này của các bên tại tòa là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật, HĐXX ghi nhận.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Trúc Ly đã bồi thường thay cho bị cáo 50.000.000đ tiền mai táng phí, không yêu cầu xem xét gì.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng thu giữ trong vụ án không C giá trị sử dụng.

Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng, án phí dân sự có giá ngạch (100.000.000đ x 5%) = 5.000.000đ, án phí cấp dưỡng 300.000đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Tuyên bố bị cáo Phan Văn C phạm tội “Giết người”;

Áp dụng: khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Phan Văn C 05 (Năm) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 04/8/2021.

[2] Về trách nhiệm bồi thường: Áp dụng Điều 48 BLHS, Điều 591 BLDS.

Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và gia đình bị hại, buộc bị cáo Phan Văn C tiếp tục bồi thường tiền tổn thất tinh thần 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) và cấp dưỡng nuôi con bị hại 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Cha mẹ bị hại ông Trình Việt T và bà Lê Thị H nhận số tiền 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng) tiền tổn thất tinh thần, C lại 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) tiền tổn thất tinh thần và 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) tiền cấp dưỡng nuôi con bị hại do vợ bị hại Thị Trúc Kh nhận.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án C phải chịu khoản tiền lãi của số tiền C phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng không C giá trị sử dụng:

- 01(một) bình ắc quy, võ bọc nhựa màu trắng, bên hông bình có dòng chữ

Đồng Nai 12v-40AH;

- 01(một) bình ắc quy, võ nhựa màu trắng, bên hông bình có chữ TRY;

- 01(một) bộ kích điện, được để trong hộp nhựa màu trắng kích thước 21cm x 13cm, cao 10cm, nắp đậy màu vàng, đầu vào được kết nối với 02 sợi dây điện màu vàng và 02 kẹp kim loại, đầu ra được kết nối với 02 sợi dây màu đỏ;

- 01(một) bộ kích điện kích thước 10cm x 16cm x 6m đầu vào kết nối dây điện màu đỏ, dây điện màu xanh và kẹp kim loại, đầu ra kết nối với hai sợi điện màu đỏ;

- Nhiều đoạn dây kim loại đường kính 0,05cm.

- 48(bốn mươi tám) cọc gỗ tre kích thước không đều nhau;

- 01(một) võ nhựa màu xanh kích thước 38cm x 30cm x 26cm;

- 01(một) đoạn gỗ trúc dài 1,53cm, đường kính 2,2cm và 1,6cm, đầu đường kính 1,6cm có gắn một đoạn kim loại dài 23cm đường kính 0,6cm, đoạn kim loại này kết nối với dây điện màu vàng;

- 01(một) đoạn gỗ trúc dài 1,53cm, đường kính 2 cm và 1,6 cm, đầu đường kính 1,6cm có gắn một đoạn kim loại dài 26cm đường kính 0,35cm, đoạn kim loại này kết nối với dây điện màu vàng;

(Theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 15/QĐ-VKSTKG-P2 ngày 15/03/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Phan Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), án phí dân sự có giá ngạch 5.000.000đ (Năm triệu đồng), án phí cấp dưỡng 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

5. Báo cho bị cáo, đại diện bị hại, người liên quan biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ