vanban.org

Bản án 44/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 27/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T (Tên gọi khác: TXG) phạm tội "Trộm cắp tài sản"

Xử phạt: bị cáo Phạm Văn T (Tên gọi khác: TXG) 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04.01.2022. * Về xử lý vật chứng: Tiếp tục quy trữ tại hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD bên trong có dữ liệu trích xuất đoạn video ghi lại hình ảnh Phạm Văn T có hành vi trộm cắp. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T (Tên gọi khác: TXG) phạm tội "Trộm cắp tài sản"
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2022/HS- ST
Ngày: 27-04-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Thuận

2. Bà Lê Thị Nhớ ,

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Quỳnh Như- Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Bách- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 04 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2022/TLST- HS ngày 22 tháng 03 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2022/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 04 năm 2022 đối với bị cáo:

Phạm Văn T (Tên gọi khác: TXG) - Sinh ngày 08 tháng 04 năm 1988 tại Đà Nẵng; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: tổ 52, phường XH, quận TK, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C (c) và bà Cao Thị M (s). Có vợ là Lê Thị Tường V (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2010.

Tiền án: Ngày 24/6/2013, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 74/2013/HS-ST. (Bị cáo chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm, chưa bồi thường về phần trách nhiệm dân sự cho người bị hại).

Tiền sự: Chưa.

Nhân thân:

- Ngày 04/6/2009, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 62/2009/HSST.

- Ngày 21/4/2016, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xử phạt 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 46/2016/HSST.

Bị cáo bị bắt theo Quyết định truy nã ngày 04/01/2022, tạm giữ ngày 05/01/2022, tạm giam ngày 05.01.2022. (có mặt)

- Bị hại: Anh Trần D- Sinh năm: 2002; trú tại: tổ 46, phường TC, quận TK, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Anh Th-sinh năm: 1990; trú tại: Tổ 27, phường HKN, quận LC, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 22/03/2020, Phạm Văn T cùng bạn là Trần Anh Th, Hoàng Văn T (sinh năm:1988; HKTT: 38 ĐNM, P. HA, Q. CL, TP. Đà Nẵng), Nguyễn Thanh Ph (sinh năm:1975; HKTT: K27/48 LĐ, P. CG, Q. TK, TP. Đà Nẵng) đến chơi bida tại quán “ThN” ở số 09 HĐ 1, phường XH, quận TK, thành phố Đà Nẵng. Quá trình chơi, T thấy có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen của anh Trần D để trên bàn bên cạnh nên Tín nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại. Để tránh bị phát hiện, T mượn của anh Th xe môtô hiệu Honda Wave RSX, BKS: 43D1 – 503.75 và nói là về nhà có việc rồi đi ra ngoài lấy áo khoác dài tay và khẩu trang có sẵn trên xe của anh Thắng mặc vào rồi quay lại quán bida, quan sát lúc không có ai để ý, T đi đến bên cạnh chiếc bàn rồi lén lút lấy trộm chiếc điện thoại nói trên của anh D bỏ vào túi quần, đi về nhà. Trên đường đi T cởi áo khoác và khẩu trang để trên xe và bị rơi mất. Sau đó, Tín đến gặp anh Thắng tại nhà ở tổ 27 phường HKN, quận LC, thành phố Đà Nẵng. Khi đến nơi T đưa điện thoại trộm được cho anh Th giữ giúp và nói “cầm giúp anh, mai anh qua chạy chương trình rồi anh lấy” (Th là thợ sữa chữa điện thoại) rồi tiếp tục mượn xe của anh Th đi chơi. Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê xác định Phạm Văn T là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh D. Qua làm việc, T đã thừa nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên. Tiến hành làm việc với anh Trần Anh Th, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê đã thu hồi chiếc điện thoại mà T đã trộm cắp. Quá trình điều tra, Phạm Văn T bỏ trốn nên ngày 13/7/2020, Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã ra Quyết định truy nã đối với Tín. Đến ngày 04/01/2022, Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê bắt Phạm Văn T theo Quyết định truy nã.

Vật chứng tạm giữ:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu đen số Imei: 353096103028792 (anh Thắng giao nộp).

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, BKS 43D1-503.75; 01 mũ bảo hiểm màu xanh; 01 áo thun nam màu trắng; 01 quần Jean màu đen. (do Tín giao nộp);

- 01 đĩa DVD bên trong có dữ liệu trích xuất gồm đoạn video ghi lại hình ảnh Phạm Văn T có hành vi trộm cắp nêu trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 26 tháng 03 năm 2020 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê xác định điện thoại Iphone XS Max màu đen số Imei: 353096103028792 có giá trị là 14.850.000 đồng (mười bốn triệu tám trăm năm mươi ngàn đồng).

Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 21 tháng 03 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố: Phạm Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản"

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; Xử phạt Phạm Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Anh D đã nhận được lại tài sản bị mất và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu đen số Imei: 353096103028792, Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã trả lại cho bị hại Trần D là đúng quy định pháp luật;

- Đối với xe môtô hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, BKS 43D1-503.75, qua điều tra xác định được người đứng tên chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Gi (sinh năm: 1992, trú: tổ 21, phường TKT, quận TK, thành phố Đà Nẵng). Tháng 7/2021, chị Gi bán chiếc xe trên cho anh Trần Anh Th. Ngày 13/7/2020, cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã trả lại chiếc xe trên cho anh Trần Anh Th. Việc trả xe cho anh Thắng là đúng quy định pháp luật.

- Đối với 01 mũ bảo hiểm màu xanh; 01 áo thun nam màu trắng; 01 quần Jean màu đen là tài sản cá nhân của T, không liên quan đến việc phạm tội nên ngày 03/3/2022, cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã trả lại các tài sản này cho T là phù hợp.

- Đối với 01 đĩa DVD bên trong có dữ liệu trích xuất đoạn video ghi lại hình ảnh Phạm Văn T có hành vi trộm cắp (được chuyển kèm hồ sơ vụ án).

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận gì với phần luật tội của Kiểm sát viên. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cứu xét hoàn cảnh, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cở sở kết luận: Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 22/3/2020, tại quán Bida “ThN” ở số 09 HĐ 1, phường XH, quận TK, thành phố Đà Nẵng, Phạm Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Trần D 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu đen trị giá 14.850.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 21 tháng 03 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an xã hội tại địa phương. Nhân thân của bị cáo xấu nhiều lần bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xét xử cùng về hành vi tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 04/6/2009 bị xử phạt 01 năm 03 tháng tù tại bản án số 62/2009/HSST; ngày 21/4/2016 bị xử phạt 21 tháng tù tại bản án số 46/2016/HSST. Quá trình điều tra vụ án bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho việc điều tra vụ án và bị bắt theo quyết định truy nã nên đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 24/6/2013, bị cáo Phạm Văn T bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 74/2013/HS-ST. Do bị cáo chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm cũng như chưa bồi thường về phần trách nhiệm dân sự cho người bị hại theo quy định nên phải chịu tình tiết tăng nặng Tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để cân nhắc giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đề nghị là phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Do vậy, cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu đen số Imei: 353096103028792, Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã trả lại cho bị hại Trần D là đúng quy định pháp luật;

- Đối với xe môtô hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, BKS 43D1-503.75, qua điều tra xác định được người đứng tên chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Gi (sinh năm: 1992, trú: tổ 21, phường TKT, quận TK, thành phố Đà Nẵng). Tháng 7/2021, chị Gi bán chiếc xe trên cho anh Trần Anh Th. Ngày 13/7/2020, cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã trả lại chiếc xe trên cho anh Trần Anh Th. Việc trả xe cho anh Thắng là đúng quy định pháp luật.

- Đối với 01 mũ bảo hiểm màu xanh; 01 áo thun nam màu trắng; 01 quần Jean màu đen là tài sản cá nhân của T, không liên quan đến việc phạm tội nên ngày 03/3/2022, cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã trả lại các tài sản này cho T là phù hợp.

- Đối với 01 đĩa DVD bên trong có dữ liệu trích xuất đoạn video ghi lại hình ảnh Phạm Văn T có hành vi trộm cắp thì cần tiếp tục quy trữ tại hồ sơ vụ án.

Đối với anh Trần Anh Th có hành vi nhận giữ giúp cho Phạm Văn T chiếc điện thoại do Tín trộm cắp được mang đến nhưng không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê không đề cập xử lý là có cơ sở.

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T (Tên gọi khác: TXG) phạm tội "Trộm cắp tài sản"

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: bị cáo Phạm Văn T (Tên gọi khác: TXG) 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04.01.2022.

* Về xử lý vật chứng: Tiếp tục quy trữ tại hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD bên trong có dữ liệu trích xuất đoạn video ghi lại hình ảnh Phạm Văn T có hành vi trộm cắp.

2. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án

Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ