vanban.org

Bản án 44/2022/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 29/06/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/06/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng hình sự.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo VMT không phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "VMT - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2022/HS-PT
Ngày 29-6-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Bình

Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Thu Hằng

Ông Đặng Minh Hạnh.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mai Phương - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Phương Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 22/2022/TLPT-HS ngày 21 tháng 4 năm 2022 đối vớ i bi ̣ cáo VMT do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HS-ST ngày 10 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Bị cáo có kháng cáo:

VMT, sinh ngày 08 tháng 9 năm 1994 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 14/31 A (cũ số 8/25 B), phường B, quận C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông D và bà E; có vợ là F và 02 con; tiền án: Không, tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14 ngày 12/01/2021 của Công an quận Ngô Quyền về hành vi “Cố ý gây thương tích”; bị tạm giữ từ ngày 06/7/2021, đến ngày 07/7/2021 thay đổi biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị: PQT, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Tổ G, phường H, thành phố I, tỉnh Quảng Ninh.

- Bị hại không kháng cáo nên Tòa án không triệu tập: Anh BH, sinh năm 1991; nơi cư trú: Số J, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 29/6/2021, M (sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn N, xã O, huyện P, thành phố Hải Phòng) nhặt được 01 con vẹt giống Scarlet Macaw màu đỏ, vàng, xanh, đuôi dài ở khu vực giáp Q ở Vịnh I, tỉnh Quảng Ninh. Qua mạng xã hội Facebook, M có biết R, sinh năm: 1976; Trú tại: Số 60/132 S, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng chuyên nuôi chim cảnh nên M đã liên hệ và thông qua R bán con vẹt trên cho BH (sinh năm: 1991; nơi cư trú: Số J, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng) với giá 26.000.000 đồng. Sau đó, R và BH thống nhất nhờ R sử dụng tài khoản Facebook “U” đăng bài bán con vẹt trên lên nhóm “Club vẹt Hải Phòng” để lấy tiền chênh lệch.

Đến khoảng 18 giờ 50 phút cùng ngày, PQT đọc được bài viết đăng bán vẹt của R. Sau khi xem ảnh, PQT xác định đúng là con vẹt PQT bị mất mấy ngày trước. PQT liên lạc với R xin chuộc lại con vẹt. Hai bên thương lượng và thống nhất số tiền chuộc lại vẹt là 30.000.000 đồng. PQT cầm tiền từ Quảng Ninh sang Hải Phòng để chuộc lại vẹt. Trên đường đi, R liên lạc lại với PQT thay đổi số tiền chuộc lên 60.000.000 đồng. Sau đó, PQT liên lạc với V (sinh năm 1984; nơi cư trú: Số W, phường X, quận C, thành phố Hải Phòng) nhờ V đi cùng dẫn đường, nhưng V bận nên V nhờ VMT đi cùng PQT. Lúc này, VMT đang ngồi uống nước cùng 01 người bạn xã hội tên X và 03 người bạn của X (đều không rõ lai lịch, địa chỉ). VMT nhờ X đưa VMT ra công viên Y, L gặp PQT và đi theo, khi xong việc thì chở VMT về. X đồng ý và chở VMT cùng bạn của X trên xe ô tô 07 chỗ đến gặp PQT ở công viên Y, quận L, thành phố Hải Phòng. VMT lên xe PQT cùng PQT đến quán bia số 132 S gặp R; còn X và 03 thanh niên đi ô tô theo sau. PQT, R và VMT vào quán bia ngồi, R gọi điện với BH trao đổi, BH đồng ý cho PQT chuộc lại con vẹt với giá 35.000.000 đồng, PQT đưa 30.000.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản cho R 5.000.000 đồng. Đến khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày, R dẫn PQT đến quán thịt chó VMT BH ở số 68 đường đôi lô 22 đường Z, phường AA, quận L, thành phố Hải Phòng gặp BH để lấy vẹt. R cầm tiền để trên mặt bàn trước mặt BH và nói: “Cho người ta chuộc vẹt với giá 35.000.000 đồng”, BH cầm tiền và nói “Vẹt mua 39.000.000 đồng thế thì lỗ à”. R nói “Người ta có tâm từ Quảng Ninh sang đây, bán cho người ta đi, 4.000.000 đồng anh sẽ bù”, BH không nói gì và đưa chìa khóa xe ô tô của BH cho R ra xe lấy vẹt đưa cho PQT. PQT lấy vẹt cất vào xe rồi cùng VMT quay lại bàn của BH. Lúc này X và 03 nam thanh niên đi cùng cũng vào bàn chỗ BH đang ngồi. PQT đi đến đứng gần chỗ BH lấy lại số tiền 30.000.000 đồng của BH để trên mặt bàn đút vào túi quần và nói “Tiền của tao, vẹt của tao, tao lấy về”. Ngay sau đó, VMT đấm vào mặt BH một nhát, PQT tát BH một cái. BH cầm bát giơ lên, PQT giữ bát lại. Thấy vậy X và 03 nam thanh niên cũng xông vào đánh BH, BH bỏ chạy. PQT rời khỏi quán đi về Quảng Ninh, VMT và nhóm thanh niên quay về nhà.

Ngày 30/6/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với PQT về hành vi Cướp tài sản.

Ngày 06/7/2021, VMT đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền đầu thú.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, PQT và VMT đã khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho người bị hại anh BH số tiền 150.000.000 đồng. Anh BH đã nhận tiền bồi thường, không có yêu cầu gì và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với PQT và VMT.

Về vật chứng: R đã tự nguyện giao nộp số tiền 5.000.000 đồng do PQT chuyển khoản tiền mua vẹt; PQT đã tự nguyện giao nộp số tiền 30.000.000 đồng; 01 con vẹt Scarlet Macaw màu đỏ, vàng, xanh đuôi dài; 01 áo phông màu vàng trên ngực trái có dòng chữ Adidas; 01 quần đùi màu đen PQT mặc ngày 29/6/2021

Tại Bản án sơ thẩm số 16/2022/HS-ST ngày 10 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã căn cứ vào khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 54; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo VMT 27 (hai mươi bẩy) tháng tù về tội “Cướp tài sản”, trừ cho bị cáo 01 ngày tạm giữ (từ ngày 06/7/2021 đến ngày 07/7/2021), thời hạn chấp hành hình phạt tù còn lại là 26 tháng 29 ngày. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 6 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên hình phạt đối với bị cáoPQT, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo VMT kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo bị cáo rút yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo mà đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, bị cáo không có ý kiến gì về tội danh và khung hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên.

Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sá t nhân dân thà nh phố Hải Phò ng phá t biểu quan điểm giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mới nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Song cũng xét: nhân thân bị cáo có một tiền án chưa được xóa án tích mà còn vi phạm nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo. Từ phân tich trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355;

́ điểm c khoản 1 Điều 357 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo,

̀

sửa Bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo VMT đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị cáo PQT và phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ thể hiện thống nhất nội dung: Sau khi biết được anh BH đã mua lại được con vẹt của mình bị mất, PQT đã hẹn gặp anh BH để chuộc lại vẹt với giá 30.000.000 đồng vào khoảng 19h40’ngày 29/6/2021. Khi hai bên gặp nhau, PQT đặt số tiền 30.000.000 đồng trên mặt bàn và anh BH giao vẹt cho PQT. Sau khi cất vẹt vào ôtô, PQT và VMT đã ngay tức khắc có hành vi sử dụng vũ lực, dùng tay chân đấm đá, tấn công anh BH làm cho anh lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm mục đích chiếm đoạt của anh số tiền 30.000.000 đồng. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo PQT và VMT đồng phạm tội “Cướp tài sản” vi phạm khoản 1 Điều 168 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự là đúng quy định pháp luật.

̀

Tính chất vụ án là nghiêm trọng . Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân mà còn xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trị an xã hội nên cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Hô ̣i đồng xét xử xét thấy: Sau khi phạm tội, bị cáo VMT thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài việc trả lại tài sản chiếm đoạt, bị cáo đã liên đới tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình xử phạt bị cáo 27 tháng tù là có căn cứ.

Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo xuất trình tình tiết mới: Bị cáo có ông ngoại là ông AB là Liệt sỹ được tặng Huân chương kháng chiến Hạng Ba, bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, xét bị cáo có vai trò thứ yếu trong vụ án nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Vì vậy, chấp nhận kháng cáo của bị cáo: Giảm một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Về án phí: Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo VMT, sửa Bản án sơ thẩm , giảm một phần hình phạt đối vớ i bi ̣ cáo.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo VMT: 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Cướp tài sản” (trừ cho bị cáo 01 ngày tạm giữ từ ngày 06/7/2021 đến ngày 07/7/2021). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo VMT không phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số

16/2022/HS-ST ngày 10 tháng 3 năm 2022 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ