vanban.org

Bản án 44/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 20/06/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/06/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Pham Xuân C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
TỈNH!HẢI!DƯƠNG!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2022/HS-PT
Ngày: 20/6/2022

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!TỈNH!HẢI!DƯƠNG!

- Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"phúc"thẩm"gồm"có:"

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Phạm Thị Đào.!

Các"Thẩm"phán:"Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh, bà Đoàn Thị Hương Nhu.""""

- Thư"ký"phiên"tòa:"Bà Vũ Bích Thủy!-"Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"tỉnh"Hải"Dương"tham"gia"phiên"tòa: Ông Đỗ Văn Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2022/TLPT-HS ngày 10 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo Phạm Xuân C do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2022/HSST ngày 31/3/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

-"Bị"cáo"có"kháng"cáo:"Phạm Xuân C, sinh năm 1981 tại tỉnh Hải Dương; nơi ĐKHKTT: Số 33/8 N T, phường N C, thành phố H D, tỉnh H D. Nơi cư trú: Số 46 L Q B, phường N C, thành phố H D, tỉnh H D; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 7/12; con ông Phạm Xuân L và bà Nguyễn Thị D. Vợ Bùi Thị L, có 03 con, con lớn sinh năm 2002 con nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

Tại Bản án số 15/1999/HSST ngày 29/01/1999 bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”

Tại bản án số 32/2008/HSST ngày 26/02/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 26 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2009.

Tại bản án số 133/2013/HSST ngày 10/9/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/4/2014.

1

Tại bản án số 107/2016/HSST ngày 13/7/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/4/2017.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/12/2021 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Trương Thị H, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Số 20/61 C M, phường P N L, thành phố H D, tỉnh H D. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 01/12/2021, Phạm Xuân C điều khiển xe mô tô Libety màu trắng, BKS 34B1 – 354.01 đến số 65 Đồng Xuân, phường Trần Phú, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương để mua xôi. Tại đây, C nhìn thấy trong hộc đựng đồ phía trên bên trái xe đạp điện màu ghi đen của chị H dựng dưới lòng đường có để 01 điện thoại di động Iphone Xsmax màu vàng nhưng không có người trông coi. C xuống xe, tiến lại gần xe đạp điện, dùng tay phải nhấc chiếc điện thoại ra khỏi hộc đựng đồ của xe đạp điện, sau đó đút vào túi quần sau bên trái đang mặc và đi vào mua xôi, rồi ra về. Khoảng 13 giờ cùng ngày, C thấy tài khoản facebook của chị H đăng bài viết nhờ mọi người tìm hộ điện thoại kèm hình ảnh đối tượng trộm điện thoại và số điện thoại liên lạc là 0935.611.116. Sợ bị phát hiện nên C sử dụng số điện thoại 0948.448.442 gọi vào số điện thoại trên. C tự nhận mình là người trộm cắp điện thoại và hẹn gặp chị H để trả lại. Khoảng 14 giờ cùng ngày, tại phố Tam Giang, thành phố Hải Dương, C đã trả điện thoại cho chị H. Sau khi về nhà, C tiếp tục gọi điện thoại cho chị H để yêu cầu chị H xóa bài đăng trên facebook thì chị H hẹn C ở đường Nguyễn Trãi, phường Nguyễn Trãi, thành phố Hải Dương để giải quyết. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi C và chị H đang nói chuyện tại khu vực trước cửa số nhà 164 Nguyễn Trãi thì bị lực lượng công an mời về làm việc tại trụ sở.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 81/KL-HĐĐG ngày 13/12/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND thành phố Hải Dương kết luận: Chiếc điện thoại Iphone Xsmax màu vàng trị giá 8.519.500đ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2021/HS-ST ngày 31/3/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương đã căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết

2

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Xuân C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Phạm Xuân C 10 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 22/12/2021. Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/4/2022 bị cáo Phạm Xuân C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, bị cáo C giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Sau khi phân tích các tình tiết trong vụ án xác định cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phạm Xuân C về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng: Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng mức hình phạt 10 tháng tù giam đối với bị cáo là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nên đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định hình phạt của bản án sơ thẩm. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định, là kháng cáo hợp lệ nên được HĐXX xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 01/12/2021, tại trước cửa số nhà 65 phố Đồng Xuân, phường Trần Phú, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Bị cáo Phạm Xuân C đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị H 01 chiếc điện thoại Iphone Xsmax màu vàng, trị giá 8.519.500 đồng. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi, muốn có tiền tiêu sài, không chịu lao động mà bị cáo đã thực hiện với lỗi cố ý. Bị cáo lợi dụng sơ hở của bị hại, lén lút chiếm đoạt điện thoại trị giá 8.519.500 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

3

Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật. Về tội danh bị cáo không kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân không kháng nghị.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Xuân C, HĐXX thấy rằng: Trong vụ án này, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo tự nguyện trả cho bị hại tài sản chiếm đoạt và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có bố mẹ đẻ được Nhà nước tặng Huân chương, huy chương. Đó là những tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về hành vi chiếm đoạt nhưng không cố gắng thay đổi bản thân mà chỉ cần có cơ hội, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Điều đó thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Quá trình xét xử sơ thẩm, Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng đầy đủ tình tiết giảm nhẹ và xử phạt bị cáo 10 tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên đề nghị kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không có căn cứ để HĐXX phúc thẩm chấp nhận.

[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị, Hội đồng xét xử không xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT!ĐỊNH:!

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Xuân C; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2022/HS-ST ngày 31/3/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt đối với bị cáo Phạm Xuân C.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Xuân C 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 22/12/2021.

4

2. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Xuân C phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 20/6/2022)./. N¬i!nhËn:!!

Cỡ chữ