vanban.org

Bản án 44/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí …

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Vân Anh, xử cho chị Lê Thị Vân Anh được ly hôn với anh Đỗ Tất Kiệt Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị A xin ly hôn anh K"
  • Tòa quyết gì? Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí …
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:44/2022/HNGĐ- ST
Ngày: 25-11-2022
V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Huy Trụ

2. Bà Lưu Thị Kim Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Minh- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân

thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Ngày 25 tháng 11 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt

Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 387/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2022về tranh chấp “Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2022/QĐXX-ST ngày 14 tháng 10 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Vân Anh, sinh năm 1994

Địa chỉ: Tổ 3ª, khu Hương Trầm, phường Dữu Lâu, thành phố Việt Trì, tỉnh

Phú Thọ

Bị đơn: Anh Đỗ Tất Kiệt, sinh năm 1991

Địa chỉ: Tổ 3ª, khu Hương Trầm, phường Dữu Lâu, thành phố Việt Trì, tỉnh

Phú Thọ

(Chị Anh có mặt, anh Kiệt vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án,

nguyên đơn chị Lê Thị Vân Anh trình bày:

Chị và anh Đỗ Tất Kiệt yêu thương nhau tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày

22/12/2022 tại UBND phường Dữu Lâu, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng ở chung với gia đình nhà chồng. Vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Kiệt mải chơi đi hàng tháng không lo lắng chăm con cái ốm đau cũng mặc kệ. Từng cắm đồ dùng cá nhân của chị lấy tiền ăn chơi, tiền chăm nom con đi viện cũng mang đi. Tính bảo thủ có bạo lực trong gia đình. Tháng 10 năm 2020 chị và con đã chuyển ra ngoài không còn ở chung với anh Kiệt đến tháng 12 năm 2021 có quay về cho anh Kiệt một cơ hội tuy nhiên hai vợ chồng vẫn mâu thuẫn nghiêm trọng không khắc phục được, đến tháng 5 năm 2022 chị và con lại chuyển ra ngoài. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn với anh Kiệt.

-Về con chung: Chị xác nhận có 01 con chung là cháu Đỗ Lê Ngọc Trinh, sinh

ngày 27/4/2020. Khi ly hôn, chị xin được nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay con chung đang với chị

- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị xác định không có nên

không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Đỗ Tất Kiệt trình bày: Anh xác nhận lời trình bày chị Anh về

thời gian đăng ký kết hôn, quá trình chung sống hạnh phúc. Sau khi kết hôn vợ chồng ở chung với gia đình nhà anh, vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì tới cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Lý do là vợ chồng chỉ cãi cọ nhau, mâu thuẫn đã được hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay. Nay chị Anh xin ly hôn quan điểm của anh là đồng ý ly hôn vì anh xác định vợ chồng không còn tình cảm, tuy nhiên anh chỉ đồng ý ly hôn với điều kiện con chung là cháu Đỗ Lê Ngọc Trinh phải để anh trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng .

-Về con chung: Anh xác nhận có 01 con chung là cháu Đỗ Lê Ngọc Trinh,

sinh ngày 27/4/2020. Khi ly hôn, anh xin được nuôi con chung và không yêu cầu chị Anh phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay con chung đang với chị Anh

- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Anh xác định không có nên

không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết đến trước thời điểm mở phiên tòa, chi Anh vẫn

giữ nguyên quan điểm, anh Kiệt vắng mặt nên không có quan điểm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về

việc nuôi con khi ly hôn. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự . Do bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ nên Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét về sự vắng mặt của anh Đỗ Tất Kiệt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Ngày

14/10/2022 Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử và đã tống đạt hợp lệ cho anh Kiệt nhưng anh Kiệt vẫn vắng mặt tại phiên xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa, đã tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Kiệt. Tại phiên tòa hôm nay anh Kiệt vắng mặt 02 lần không có lý do, chị Anh có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Anh và anh Kiệt là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân:

Chị Lê Thị Vân Anh và anh Đỗ Tất Kiệt yêu thương nhau tự nguyện và

đăng ký kết hôn ngày 22/12/2022 tại UBND phường Dữu Lâu, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Xét thấy chị Anh và anh Kiêt kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, việc kết hôn không vi phạm điều cấm nên là hôn nhân hợp pháp.

Theo lời trình bày của chị Anh thì mâu thuẫn hai vợ chồng là do anh Kiệt

mải chơi đi hàng tháng không lo lắng chăm con cái ốm đau cũng mặc kệ. Từng cắm đồ dùng cá nhân của chị lấy tiền ăn chơi, tiền chăm nom con đi viện cũng mang đi. Tính bảo thủ có bạo lực trong gia đình. Tháng 10 năm 2020 chị và con đã chuyển ra ngoài không còn ở chung với anh Kiệt đến tháng 12 năm 2021 có quay về cho anh Kiệt một cơ hội tuy nhiên hai vợ chồng vẫn mâu thuẫn nghiêm trọng không khắc phục được, đến tháng 5 năm 2022 chị và con lại chuyển ra ngoài. Theo lời trình bày của anh Kiệt thì anh xác nhận quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, tới cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Lý do là vợ chồng cãi cọ nhau, mâu thuẫn đã được hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay. Anh Kiệt thừa nhận vợ chồng không còn tình cảm, lý do anh chưa đồng ý ly hôn là do anh muốn nuôi con chung là cháu Đỗ Lê Ngọc Trinh, anh chỉ đồng ý ly hôn với chị Anh nếu chị anh giao con chung cho anh nuôi. Xét lời trình bày của các đương sự thì Hội đồng xét xử nhận thấy việc vợ chồng chị Anh, anh Kiệt là có mâu thuẫn, nhận thấy thực tế tình cảm vợ chồng giữa chị Anh và anh Kiệt đã không còn tồn tại. Anh Kiệt cũng thừa nhận anh đồng ý ly hôn do vợ chồng không còn tình cảm, tuy nhiên anh chỉ ly hôn khi được nuôi con chung, như vậy Hội đồng xét xử khẳng định, mâu thuẫn giữa chị chị Anh và anh Kiệt đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện cho chị Anh được ly hôn với anh Kiệt theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình là đúng quy định pháp luật.

- Về con chung:Hai bên xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Đỗ Lê

Ngọc Trinh, sinh ngày 27/4/2020. Khi ly hôn, chị Anh và anh Kiệt đều có nguyện vọng nuôi con chung. Xét thấy đây là nguyện vọng chính đáng của đương sự.

Chị Anh và anh Kiệt đều có công việc thu nhập ổn định, chỗ ở, đều có đủ

điều kiện để chăm sóc con chung tuy nhiên cháu Trinh hiện nay dưới 36 tháng tuổi, mà theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật HNGĐ có quy định “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con” Ngoài ra cháu Trinh đang ở với mẹ, được chị Anh trực tiếp nuôi dưỡng. Như vậy cần thiết giao con chung cho chị Anh trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với thực tế khi con chung còn nhỏ, rất cần có sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ.

- Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Chị Anh và anh Kiệt

xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Chị Anh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của

pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Các Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58, 81,82, 83, 84 của Luật

Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Vân Anh, xử cho chị

Lê Thị Vân Anh được ly hôn với anh Đỗ Tất Kiệt

2. Về con chung: Giao cháu Đỗ Lê Ngọc Trinh, sinh ngày 27/4/2020 cho chị

Anh được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Kiệt không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Anh không yêu cầu. Không bên nào được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không

được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Hội đồng xét xử không

xem xét giải quyết.

4.Về án phí: Chị Lê Thị Vân Anh phải chịu 300.000đ(Ba trăm nghìnđồng)

án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Anh đã nộp 300.000 đ(Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2020/0009823 ngày 07/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án

để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự

thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -VKSND TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Chi cục Thi hành án TP Việt Trì;

- UBND phường Dữu Lâu, Việt Trì,Phú Thọ;

- Các đương sự;

- Lưu HS- VP.

Lý Thị Thanh Huyền THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Thị Thanh Huyền

Cỡ chữ