vanban.org

Bản án 44/2022/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 29/12/2022 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1. X cho ly hôn giữa chị Vũ Thị B và anh Trần Văn Q.

2. Về con chung: Giao anh Trần Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Quang S, sinh ngày 09-11-2017 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động tự lập được. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Trần Văn Q không yêu cầu chị Vũ Thị B phải cấp dưỡng nuôi con chung Chị Vũ Thị B có quyền…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ THị B - Trần Văn Q"
  • Tòa quyết gì? 1. X cho ly hôn giữa chị Vũ Thị B và anh Trần Văn Q.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nh n và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2022/HNGĐ-PT
Ngày: 29-12-2022
V/v: Ly hôn giữa chị B và anh Q

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Bà Vũ Thị Mai Hương Các thẩm phán:

Bà Vũ Thị Thu

Ông Lại Văn Tùng

- Thư ký phiên toà:

Ông Vũ Hoàng Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:

Bà Đặng Thị Phương Nhung - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại tr s Toà án nh n d n t nh Nam Định t

phúc th m công khai v án d n sự th lý số 29/2022/TLPT-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn”. Do ản án d n sự sơ th m số 177/2022/HNGĐ-ST ngày 15/9/2022 của Tòa án nh n dân huyện Hải Hậu - t nh Nam Định ị kháng cáo. Theo Q định đưa v án ra t số 140/2022/QĐ-PT ngày 28/12/2022 giữa các đương sự: + Nguyên đơn: Chị Vũ Thị B - Sinh năm 1997 ĐKHKTT: Xóm 6 - xã HP - huyện HH - t nh NĐ Nơi hiện nay: Xóm ĐC - ã HĐ - huyện HH - t nh NĐ

- Người đại diện theo ủy quyền của chị Vũ Thị B tại phiên tòa phúc thẩm: Bà Đoàn Thị L(mẹ đẻ chị B) sinh năm 1977 Nơi thường trú: Xóm ĐC - ã HĐ - huyện HH - t nh NĐ + Bị đơn: Anh Trần Văn Q - Sinh năm 1989 Nơi thường trú: Xóm 6 - xã HP - huyện HH - t nh NĐ

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn anh Trần Văn Q tại phiên tòa phúc thẩm: Luật sư Nguyễn Thị S – Công ty Luật TNHH Vũ Trình - Thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội + Người kháng cáo: Bị đơn anh Trần Văn Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn kh i kiện và quá trình tố t ng tại Tòa án nguyên đơn chị Vũ Thị B trình bày:

- Về quan hệ hôn nh n: Chị Vũ Thị B và anh Trần Văn Q tự do tìm hiểu tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 01-12-2016 tại UBND ã Hải Phương - huyện Hải Hậu - t nh Nam Định. Quá trình chung sống mặc dù đã có con chung nhưng do tính tình không hợp quan điểm sống khác nhau nên vợ chồng thường ích mích va chạm trong sinh hoạt hàng ngày. Do trước khi kết hôn với chị B, anh Q đã ị tai nạn giao thông hàng tháng vẫn phải dùng thuốc điều trị nên tính tình thất thường giao tiếp giữa vợ chồng cũng hạn chế. Từ khi sinh con do con chung thường uyên ốm đau ệnh tật kinh tế vợ chồng vốn đã khó khăn lại càng khó khăn hơn chị B nuôi con nhỏ không làm ra tiền nên không được anh Q tôn trọng. Tháng 2/2020 chị B Q định đi uất kh u lao động tại Đài Loan. Trước khi đi vợ chồng không àn ạc mọi chi phí phát sinh chị B đều phải nhờ ố mẹ đẻ giúp đỡ. Trong thời gian lao động do ảnh hư ng chung của dịch Covid nên thu nhập ch đủ g i về trả nợ cho ố mẹ đẻ chị B và nuôi con. Tháng 6/2022 chị B chấm dứt Hợp đồng lao động. Ngay từ khi chị B về nước anh Q và gia đình ch tập trung hỏi về tiền ạc kinh tế chị B làm ra trong thời gian lao động nước ngoài. Vì vậy vợ chồng m u thuẫn trầm trọng tình cảm lạnh nhạt chị B cùng ố mẹ đẻ tại Hải Đông anh Q cùng ố đẻ tại Hải Phương chị B và anh Q ly th n chấm dứt quan hệ tình cảm trách nhiệm từ đó cho đến nay. X t thấy tình cảm không còn vợ chồng không thể sống chung nên chị B đề nghị ly hôn với anh Q.

- Về con chung: Chị B, anh Q có 01 con chung là cháu Trần Quang S, sinh ngày 09-11-2017 hiện đang do anh Q nuôi dưỡng. Tuy nhiên do anh Q không được khỏe mạnh nhanh nhẹn thuộc diện khuyết tật hiện đang hư ng trợ cấp ã hội; mẹ đẻ anh Q ị ệnh đã chết; anh Q hiện đang cùng ố đẻ là người cao tuổi nên không đảm ảo các điều kiện chăm sóc nuôi dạy con chung. Trong khi đó chị B hiện có đủ sức khỏe có công việc thu nhập ổn định đảm ảo đủ điều kiện để nuôi dạy con. Vì vậy chị B nhận nuôi con chung không yêu cầu anh Q cấp dưỡng.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải Q.

Tại ản tự khai và trong quá trình tố t ng tại Tòa án ị đơn là anh Trần Văn Q trình bày:

- Về quan hệ hôn nh n: Thống nhất với lời trình ày của chị B về thời gian địa điểm kết hôn quá trình chung sống thời gian vợ chồng sống ly th n.Về nguyên nh n m u thuẫn theo anh Q là do thời gian gần đ y chị B tính tình thay đổi không còn yêu thương tôn trọng anh Q; cư không kh o l o với gia đình anh Q. Ngoài ra chị B có nhiều iểu hiện không chung thủy. Vì vậy vợ chồng thường uyên m u thuẫn. Nay chị B yêu cầu ly hôn mặc dù tình cảm vợ chồng không còn nhưng vì đạo công giáo không cho ph p người có đạo được ly hôn nên anh Q không nhất trí ly hôn.

- Về con chung: Anh Q ác nhận vợ chồng có một con chung như chị B đã trình bày. Khi ly hôn, anh Q có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung với các lý do: Anh Q là người cùng trực tiếp chăm sóc cho con chung từ nhỏ. Trong suốt thời gian chị B đi lao động nước ngoài ản th n anh Q vẫn đảm đương nuôi dạy con phát triển hoàn toàn khỏe mạnh. Bên cạnh đó chị B có nhiều iểu hiện không chung thủy nên không đủ tư cách để nuôi dạy con chung. Hơn nữa mặc dù đang hư ng trợ cấp ã hội nhưng anh Q có công việc ổn định đủ điều kiện kinh tế để chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Nếu được giao nuôi dưỡng con chung anh Q không yêu cầu chị B phải cấp dưỡng.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng anh không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải Q.

Từ nội dung v án như trên tại ản án d n sự sơ th m số 177/2022/HNGĐ-ST ngày 15/9/2022 của Tòa án nh n d n huyện Hải Hậu - t nh Nam Định, đã Q định:

Căn cứ khoản 1 Điều 56 và các Điều 81 82 83 Luật Hôn nh n và gia đình; khoản 1 Điều 227 khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố t ng d n sự.

1. Về hôn nh n: X cho ly hôn giữa chị Vũ Thị B và anh Trần Văn Q.

2. Về con chung: Giao con chung là Trần Quang S, sinh ngày 09-11-2017 cho chị B nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị B. Chị B, anh Q có mọi quyền và nghĩa v đối với con chung. Hiện cháu Sang đang do anh Q nuôi dưỡng nên anh Q có nghĩa v giao cháu Sang cho chị B theo Q định của Tòa án.

Ngoài ra ản án sơ th m còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

- Ngày 22/9/2022 ị đơn anh Trần Văn Q có đơn kháng cáo với nội dung: Không nhất trí với Q định của ản án sơ th m về phần nuôi con chung đề nghị Tòa án cấp phúc th m t lại v án theo hướng giao quyền nuôi con chung cho anh Trần Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kh i kiện ị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các đương sự trong v án không thỏa thuận được với nhau về việc giải Q v án.

- Bị đơn và Luật sư ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ị đơn trình ày tranh luận về nội dung kháng cáo như sau:

Không nhất trí với Q định của cấp sơ th m về việc giao con chung cho chị Vũ Thị B nuôi dưỡng vì các lý do:

Khi con chung Trần Quang S mới được 27 tháng tuổi rất hay ốm đau dù không được sự đồng tình của anh Q chị B vẫn cứ đi uất kh u lao động tại Đài Loan và để cháu Sang lại Việt Nam cho anh Q và gia đình chăm sóc nuôi dưỡng. Quá trình cháu Sang với anh Q chị B nước ngoài không quan t m ít thăm hỏi gọi điện liên lạc với anh Q và cháu Sang. Hiện nay anh Q có nghề s a chữa e máy e đạp điện ổn định từ khi chưa lấy chị B thu nhập hàng tháng từ 9 đến 10 triệu đồng. Anh Q có nơi ổn định riêng iệt rộng rãi. Còn chị B làm công nhân, thu nhập không ổn định không có chỗ độc lập mà đang sống chung cùng gia đình nhà ngoại gồm ố mẹ đẻ và 2 em. Cháu Sang đang học tập ổn định tại trường mầm non ã Hải Phương gần nơi anh Q và cháu Sang sinh sống. Nếu giao con cho chị B thì cháu Sang phải thay đổi môi trường sống sẽ ảnh hư ng đến t m sinh lý phát triển của cháu Sang. Anh Q đã chăm sóc nuôi dưỡng cháu Sang từ

hiện cháu Sang đang ổn định cùng anh Q điều kiện và môi trường sống của anh Q hơn chị B. Vì vậy đề nghị Hội đồng t phúc th m chấp nhận kháng cáo của anh Q s a ản án sơ th m giao anh Q được quyền nuôi cháu Trần Quang S và anh Q không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con chung.

- Người đại diện theo ủy quyền của chị Vũ Thị B trình ý kiến tranh luận về kháng cáo của ị đơn như sau: Không nhất trí với kháng cáo của anh Q vì khi cháu Sang được sinh ra năm 2017 thì vợ chồng anh Q và chị B về cùng gia đình nhà ngoại đến tháng 9-2019 vợ chồng anh Q và chị B về cùng ố đẻ anh Q ã Hải Phương. Đến tháng 2-2020 chị B đi uất kh u lao động tại Đài Loan à Lan (mẹ đẻ chị B) đã sang in ph p ố đẻ anh Q cho đưa cháu Sang về ên ngoại sinh sống. Năm 2021 anh Q đón cháu Sang về Hải Phương để cháu Sang đi học trường mầm non gần nhà. Tháng 6-2022 chị B về Việt Nam do vợ chồng m u thuẫn nên chị B về nhà ngoại sinh sống cháu Sang cùng anh Q. Chị B để con nhỏ Việt Nam để đi lao động uất kh u Đài Loan vì lý do kinh tế. Hiện chị B làm công nh n tại Công ty may Hải Hà có thu nhập từ 7 triệu đến 8 triệu/1 tháng. Hàng ngày chị B đi làm tại Công ty từ 7h sáng đến 7h tối trưa chị B không về nhà. Chị B có điều kiện chăm sóc con chung tốt hơn anh Q vì vậy đề nghị Hội đồng t phúc th m giao quyền nuôi con chung cho chị B như Q định của cấp sơ th m.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát iểu ý kiến:

Về tố t ng quá trình giải Q v án tại cấp phúc th m Th m phán và Hội đồng t đã tu n theo các quy định pháp luật tố t ng d n sự. Các đương sự chấp hành đúng các quy định pháp luật tố t ng d n sự quyền lợi của các đương sự được ảo đảm.

Về nội dung kháng cáo: X t thấy chị Vũ Thị B và anh Trần Văn Q có 01 con chung là cháu Trần Quang S, sinh ngày 09-11-2017. Khi ly hôn chị B và anh Q đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ và lời trình ày của các đương sự nhận thấy khi con chung là cháu Trần Quang S mới được 27 tháng tuổi thì chị B đã đi lao động uất kh u tại Đài Loan để cháu Sang nhà cho anh Q chăm sóc nuôi dưỡng. Năm 2022 khi chị B về Việt Nam chị B lại về nhà ố mẹ đẻ cháu Sang vẫn cùng anh Q được anh Q chăm sóc nuôi dưỡng. Hiện cháu Sang đang đi học tại trường mầm non ã Hải Phương. Căn cứ vào tinh thần án lệ số 54/2022/AL của Hội đồng Th m phán TAND Tối cao thấy cần tiếp t c giao cháu Trần Quang S cho anh Trần Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc.

Vì vậy căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của anh Trần Văn Q s a ản án sơ th m về phần nuôi con chung giao cháu Trần Quang S cho anh Trần Văn Q trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động tự lập được. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Q không yêu cầu chị B phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ v án đã được th m tra tại phiên toà căn cứ vào kết quả tranh t ng tại phiên toà Hội đồng t nhận định:

Kháng cáo của ị đơn anh Trần Văn Q làm trong thời hạn luật định nên được Hội đồng t

em t theo trình tự tố t ng phúc th m.

X t nội dung kháng cáo của anh Trần Văn Q:

Về thủ t c tố t ng: Quá trình giải Q v án cấp sơ th m đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố t ng d n sự không có vi phạm nghiêm trọng thủ t c tố t ng ảo đảm được quyền và nghĩa v tố t ng của các đương sự trong v án.

Về nội dung: Chị Vũ Thị B và anh Trần Văn Q tự do tìm hiểu tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND ã Hải Phương - huyện Hải Hậu vào năm 2016, nên xác định là hôn nh n hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh m u thuẫn hiện vợ chồng đã sống ly th n tình cảm vợ chồng không còn đời sống chung không thể k o dài m c đích hôn nh n không đạt được vì vậy Tòa án sơ th m đã

ly hôn giữa chị Vũ Thị B và anh Trần Văn Q là có căn cứ pháp lý phù hợp với các quy định của Luật Hôn nh n và gia đình.

Về quyền nuôi con chung sau khi ly hôn: Chị Vũ Thị B và anh Trần Văn Q có 01 con chung là cháu Trần Quang S, sinh ngày 09-11-2017. Hiện tại cháu Trần Quang S đang sinh sống cùng anh Trần Văn Q.

Nhận thấy anh chị B - Q kết hôn năm 2016 và sinh cháu Trần Quang S vào ngày 09-11-2017; Đến tháng 02-2020 chị B đi uất kh u lao động tại Đài Loan cháu Sang được anh Q cùng gia đình nội - ngoại chăm sóc nuôi dưỡng. Từ năm 2021 đến nay thì cháu Sang do một mình anh Q chăm sóc nuôi dưỡng trong suốt quá trình chị B nước ngoài. Tháng 6-2022 khi chị B hết hạn hợp đồng lao động về nước sinh sống do vợ chồng m u thuẫn nên chị B đã sống tại nhà ố mẹ đẻ ã Hải Đông; con chung là cháu Sang vẫn cùng và được anh Q chăm sóc nuôi dưỡng cho đến nay.

Hiện nay anh Q có c a hàng s a chữa e máy có thời gian tự chủ và độc lập; chị B làm công nh n tại Công ty may thời gian làm việc từ 7h sáng đến 19h tối; cả hai anh chị đều có nguồn thu nhập ổn định; chị B hiện đang về nhà ố mẹ đẻ và sống chung cùng ố mẹ đẻ và 02 em ruột; anh Q vẫn có nơi ổn định riêng iệt từ khi kết hôn; cả hai anh chị đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn. X t thấy cháu Trần Quang S từ khi sinh ra cho đến nay vẫn luôn được anh Q chăm sóc nuôi dưỡng thường uyên cháu Sang đang học mẫu giáo tại trường mầm non của ã Hải Phương - gần nơi cháu đang sinh sống cùng anh Q. Khi cháu Sang mới có 27 tháng tuổi còn rất nhỏ mặc dù không được sự đồng tình của anh Q nhưng chị B vẫn để cháu Sang cho anh Q và gia đình nội - ngoại chăm sóc nuôi dưỡng còn chị đi lao động uất kh u nước ngoài năm 2022 chị B về Việt Nam do vợ chồng m u thuẫn chị B đã về nhà ố mẹ đẻ sinh sống cháu Sang vẫn cùng anh Q và do anh Q trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Như vậy từ khi sinh ra cho đến nay cháu Sang luôn được anh Q nuôi dưỡng chăm sóc thường uyên. Hiện anh Q có thu nhập và nơi ổn định riêng iệt ảo đảm được điều kiện nuôi dưỡng con chung nên để tạo điều kiện thuận lợi cho cháu Sang được nuôi dưỡng chăm sóc học tập ổn định thì vận d ng tinh thần án lệ số 54 của HĐTP TAND tối cao thấy cần giao cháu Trần Quang S cho anh Trần Văn Q nuôi dưỡng là có căn cứ pháp lý - phù hợp thực tế ảo đảm quyền lợi chính đáng của con chưa thành niên theo quy định của Luật trẻ em và Luật hôn nh n và gia đình.

Ghi nhận sự tự nguyện của anh Trần Văn Q không yêu cầu chị Vũ Thị B cấp dưỡng nuôi con chung.

Kháng cáo của anh Trần Văn Q có căn cứ pháp lý nên được Hội đồng t

phúc th m chấp nhận.

Về án phí d n sự phúc th m: Do kháng cáo của anh Trần Văn Q được chấp nhận nên anh Q không phải nộp án phí d n sự phúc th m theo quy định của pháp luật.

Các Q định khác của ản án sơ th m không có kháng cáo - kháng nghị Hội đồng phúc th m không em t.

Vì các lẽ trên

Q ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 BLTTDS: Chấp nhận kháng cáo của ị đơn anh Trần Văn Q; s a ản án sơ th m về phần nuôi con chung.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Điều 81 Điều 82 Điều 83 Luật Hôn nh n và gia đình; Điều 27 Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy an thường v Quốc hội.

2.1. X cho ly hôn giữa chị Vũ Thị B và anh Trần Văn Q.

2.2. Về con chung: Giao anh Trần Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Quang S, sinh ngày 09-11-2017 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động tự lập được. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Trần Văn Q không yêu cầu chị Vũ Thị B phải cấp dưỡng nuôi con chung

Chị Vũ Thị B có quyền - nghĩa v thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản tr nhưng không được lạm d ng việc thăm nom để cản tr hoặc g y ảnh hư ng ấu đến việc trông nom chăm sóc nuôi dưỡng giáo d c con chung của anh Q.

3. Án phí d n sự phúc th m: Anh Trần Văn Q không phải nộp anh Q được hoàn trả lại 300.000 đồng - là số tiền tạm ứng án phí d n sự phúc th m mà anh Q đã nộp tại iên lai số 0006287 ngày 22-9-2022 của Chi c c thi hành án d n sự huyện Hải Hậu.

4. Các Q định khác của ản án sơ th m không có kháng cáo - kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ