vanban.org

Bản án 44/2021/HSST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 29/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn A phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn A 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 01/10/2020. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố bị cáo Lê Văn A phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn A phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2021/HSST
Ngày 29-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Hồng Diễm Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thắm;

Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Lê Văn A, sinh năm 1988, tại tỉnh Hà Tĩnh; địa chỉ thường trú: thôn H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; con ông Lê Văn B (đã chết) và bà Trương Thị N, sinh năm 1962; bị cáo có 04 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1991; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/8/2011, Lê Văn A bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/4/2017. Đã chấp hành xong phần án phí ngày 11/11/2011; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/10/2020 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh R, sinh năm 1998; địa chỉ thường trú: Xã Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; địa chỉ tạm trú: Ấp R, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 30/9/2020, anh R (sinh năm 1998, hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai) đi làm về và có dựng xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu trắng xanh có số khung 3710LY115883, số máy E32VE222190 chưa có biển số trong nhà xe của nhà trọ T thuộc ấp R, xã A, thị xã Bến Cát rồi đi về phòng trọ của mình tại nhà trọ T. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, anh R đi nhà xe để lấy xe đi mua đồ ăn thì phát hiện xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu trắng xanh có số khung 3710LY115883, số máy E32VE222190 bị mất trộm. Do xe của anh R có gắn định vị, anh R phát hiện xe của mình tại bãi giữ xe của nhà ở xã hội Becamex thuộc khu phố 6, phường T, thị xã B nên đến Công an xã An Tây trình báo. Công an xã An Tây kết hợp với Công an phường T theo dõi và phát hiện Lê Văn A là người đi vào nhà xe lấy xe mô tô mô tô hiệu Yamaha Sirius màu trắng xanh có số khung 3710LY115883, số máy E32VE222190 không biển số đi ra nên tiến hành bắt giữ A cùng tang vật.

Tại Cơ quan điều tra, A khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 30/9/2020. Lê Văn A đón xe Grab đi từ thị xã (nay là thành phố) Dĩ An, tỉnh Bình Dương đến thị xã Bến Cát gặp đối tượng tên B (không rõ nhân thân lai lịch) để chơi. Khi đến phòng của B, A thấy có hai người bạn của B đang chơi tại phòng. Tại đây, A, B, và bạn của B lấy ma túy ra cùng sử dụng. Đến khoảng 14 giờ ngày cùng ngày, B và bạn của B đi đâu không rõ, còn A nằm chơi điện thoại tại phòng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, B về lại phòng trọ. Lúc này, A nói với B chân của A bị gãy không đi làm được nên không có tiền tiêu xài. B nói với A, B mới lấy trộm được xe mô tô đang gửi ở bãi giữ xe, khi nào cần lấy xe thì B gọi điện cho A đến lấy xe ra đưa đi tiêu thụ thì B trả cho 1.000.000 đồng. A đồng ý. Sau đó, A bắt xe grad về Dĩ An chơi với bạn. Đến khoảng 02 giờ ngày 01/10/2020, B gọi điện thoại cho A kêu A đến bãi giữ xe lấy xe đã lấy trộm cho B. A đón xe từ Dĩ An đến khu vực điện máy T, thuộc khu phố 3, phường M thì B điều khiển xe mô tô không rõ biển số ra đón A. Đến koảng 04 giờ ngày 01/10/2020, B chở A đến bãi giữ xe nhà ở xã hội của Becamex thuộc khu phố 6, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Tại đây, B đưa cho An 01 mũi đoản băng kim loại, 03 chìa khóa xe mô tô, 01 thẻ giữ xe băng nhựa, 01 thẻ giữ xe bằng giấy, B kêu A đi vào trong bãi giữ xe đưa thẻ giữ xe bằng giấy cho bảo vệ và đi vào trong lấy xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu trắng xanh không biển số có số khung 3710LY115883, số máy E32VE222190 đang dựng trong nhà xe. A cầm thẻ giữ xe bằng giấy đi đến chỗ xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu trắng xanh không biển số có số khung 3710LY115883, số máy E32VE222190 dắt ra và ngồi lên xe đi ra cửa, A đưa thẻ xe bằng giấy cho anh Thái Hữu L (sinh năm 1988, hộ khẩu thường trú: thôn 1, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh) là bảo vệ của công ty bảo vệ Bắc Nam có nhiệm vụ trông giữ xe tại nhà ở xã hội của Becamex để mang ra ngoài đi tiêu thụ thì bị lực lượng Công an bắt giữ. Sau đó vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu trắng xanh không biển số có số khung 3710LY115883, số máy E32VE222190; 01 (một) bộ đoản bẻ khóa xe mô tô gồm: 01 mũi đoản bằng kim loại dài 08cm một đầu dẹt, một đầu lục giác, 01 cần đoản chữ T bằng kim loại dài 12cm cán có bọc nhựa màu đen và một tuýp mở khóa loại 08mm dài 2,5cm hình trụ bằng kim loại; 03 (ba) chìa khóa xe mô tô băng kim loại, tay cầm bọc nhựa màu đen; 01 thẻ giữ xe bằng nhựa cứng màu hồng (thẻ từ); 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu hồng, model TA-1174 bên trong có gắn sim số 0968245348 đã qua sử dụng.

Theo Kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐĐGTS ngày 09/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Bến Cát xác định: 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu trắng xanh biển số 81B2-890.66 đã qua sử dụng trị giá 21.870.000 đồng.

Ngày 02/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả xe mô tô hiệu Yamaha Sirus màu trắng xanh biển số 81B2-890.66 cho anh R.

Đối với thẻ xe bằng nhựa cứng màu hồng, qua xác minh được biêt là thẻ giữ xe của bãi giữ xe tòa nhà chung cư Việt Sinh tại thành phố Dĩ An giữ cho xe mô tô biển số hiệu Sirus màu đen biển số 66K1-288.04 do ông Đoàn Văn T (sinh năm 1996, hộ khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp) đứng tên chủ sở hữu bị mất trộm vào khoảng 17 giờ ngày 30/9/2020 tại khu phố 4, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do vụ trộm xảy ra trên địa bàn thành phố T, tỉnh Bình Dương. Ngày 26/3/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKSBC ngày 27 tháng 01 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Văn A về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Văn A về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Văn A mức án từ 14 tháng đến 16 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) bộ đoản bẻ khóa xe mô tô gồm: 01 mũi đoản bằng kim loại dài 08 cm một đầu dẹt, một đầu lục giác, 01 cần đoản chữ T bằng kim loại dài 12 cm cán có bọc nhựa màu đen và một tuýp mở khóa loại 08mm dài 2,5cm hình trụ bằng kim loại.

- 03 (ba) chìa khóa xe mô tô băng kim loại, tay cầm bọc nhựa màu đen;

- 01 (một) sim số 0968245348 (không kiểm tra được số seri)

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu hồng, model TA-1174.

Bị cáo Lê Văn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Trong quá điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát; nội dung bản Cáo trạng số 21/CT-VKSBC ngày 27 tháng 01 năm 2021. Bị cáo và bị hại không có ý kiến khiếu nại gì đối với Kết luận về việc định giá tài sản số 70/KL-HĐĐGTS ngày 09/10/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã Bến Cát.

Tại phiên tòa, bị cáo không đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận gì để đối đáp với Kiểm sát viên về nội dung luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Lê Văn A đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ thu giữ trong vụ án, lời khai của bị hại. Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:

Khoảng 04 giờ ngày 30/9/2020, tại bãi giữ xe của nhà ở xã hội Becamex thuộc khu phố 6, phường T, thị xã B, Lê Văn A biết đối tượng tên B (không rõ nhân thân lai lịch) lấy trộm xe mô tô hiệu Yamaha Sirus màu trắng xanh có số khung 3710LY115883, số máy E32VE222190 của anh R trị giá 21.870.000 đồng nhưng vẫn đồng ý lấy xe mang đi tiêu thụ để được trả tiền công.

Hành vi mà bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hội đồng xét xử nhận định tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Ngoài ra còn gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại. Về nhận thức, bị cáo biết rõ xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu trắng xanh biển số 81B2-890.66 do đối tượng tên B phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý tiêu thụ tài sản là hành vi vi phạm pháp luật. Bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý vì động cơ tư lợi, lười lao động. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện tình tiết định khung hình phạt, nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Xét về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo vừa chấp hành xong mức hình phạt 07 năm 06 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Dù tuổi đời bị cáo xử lý bị cáo mức hình phạt nghiêm minh để răn đe và giáo dục bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tài sản chiếm đoạt đã thu hồi được. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối chiếu với những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian không chỉ nhằm trừng trị bị cáo mà còn giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới; đồng thời có tác dụng giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Do đó, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt và các vấn đề khác đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự:

Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu trắng xanh có số khung 3710LY115883, số máy E32VE222190 có biển số 81B2-890.66: Xe này do anh R đứng tên chủ sở hữu. Ngày 02/12/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả xe mô tô hiệu Yamaha Sirus màu trắng xanh biển số 81B2-890.66 cho anh R. Anh R không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) bộ đoản bẻ khóa xe mô tô gồm: 01 mũi đoản bằng kim loại dài 08 cm một đầu dẹt, một đầu lục giác, 01 cần đoản chữ T bằng kim loại dài 12 cm cán có bọc nhựa màu đen và một tuýp mở khóa loại 08mm dài 2,5cm hình trụ bằng kim loại; 03 (ba) chìa khóa xe mô tô băng kim loại, tay cầm bọc nhựa màu đen; 01 (một) sim số 0968245348 (không kiểm tra được số seri) là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu hồng, model TA-1174 là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với thẻ xe bằng nhựa cứng màu hồng: Qua xác minh được biêt là thẻ giữ xe của bãi giữ xe tòa nhà chung cư Việt Sinh tại thành phố Dĩ An giữ cho xe mô tô biển số hiệu Sirus màu đen biển số 66K1-288.04 do ông Đoàn Văn T (sinh năm 1996, hộ khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp) đứng tên chủ sở hữu bị mất trộm vào khoảng 17 giờ ngày 30/9/2020 tại khu phố 4, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do vụ trộm xảy ra trên địa bàn thành phố T, tỉnh Bình Dương. Ngày 26/3/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T giải quyết theo thẩm quyền là đúng quy định pháp luật.

Đối với đối tượng tên B, hiện cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát tiếp tục xác minh, khi nào xác định được sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn A phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn A 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 01/10/2020.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) bộ đoản bẻ khóa xe mô tô gồm: 01 mũi đoản bằng kim loại dài 08 cm một đầu dẹt, một đầu lục giác, 01 cần đoản chữ T bằng kim loại dài 12 cm cán có bọc nhựa màu đen và một tuýp mở khóa loại 08mm dài 2,5cm hình trụ bằng kim loại.

- 03 (ba) chìa khóa xe mô tô băng kim loại, tay cầm bọc nhựa màu đen.

- 01 (một) sim số 0968245348 (không kiểm tra được số seri)

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu hồng, model TA-1174.

(Vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày ngày 03/02/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát giữa Công an thị xã Bến Cát và Chi cục Thi hành án dân thị xã Bến Cát).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Văn A phải chịu 200.000 đồng.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tòa tuyên án.

Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ