vanban.org

Bản án 44/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái Tuyên án 27/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến Ph và Nguyễn Xuân T. Phạm tội: Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN BÌNH
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2021/HS-ST.
Ngày 27-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Tiến Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Thái.

Ông Đinh Xuân Trường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đức Định–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2021/HS-ST ngày 25-11-2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Tiến Ph, sinh ngày 25 tháng 4 năm 1985 tại thị trấn Yên Bình, Yên Bình, Yên Bái. Nơi ĐKNKTT tại: Tổ A, thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn L (Đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1949. Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Ngày 10-5-2019 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Ngày 01-4-2006 bị Chủ tịch UBND thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái ra Quyết định số: 07/QĐ-UB về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã.

+ Ngày 29-01-2007 bị Chủ tịch UBND huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái ra Quyết định số: 64/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp đưa đối tượng nghiện Ma túy vào cơ sở chữa bệnh với thời hạn 02 năm.

+ Ngày 15-9-2009 bị Trưởng Công an huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc với hình thức phạt tiền.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25-8-2021. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại Tạm giam Công an tỉnh Yên Bái. Có mặt.

2. Nguyễn Xuân T, sinh ngày 23 tháng 12 năm 1985 tại huyện Yên Bình, Yên Bái. Nơi ĐKNKTT tại: Thôn Đ, xã Thịnh Hưng, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Ngọc U, sinh năm 1947 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1948. Vợ: Bàn Thị H, sinh năm 1995; Con: Có 02 con: Con lớn sinh năm 2013, con bé sinh năm 2016.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 09-3-2017 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái ra Quyết định số: 04/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 02 năm.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06-11-2021. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại Tạm giam Công an tỉnh Yên Bái. Có mặt.

- Bị hại: Công ty Cổ phần Xi măng và khoáng sản Yên Bái.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang Ph- Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Nam H- Phó giám đốc Nhà máy Xi măng Yên Bái. Có mặt.

- Những người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng: Ông Nguyễn Khắc H, sinh năm 1964.

Trú tại: Thôn Đ, xã Giới Phiên, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

+ Người chứng kiến: Anh Vũ Xuân T, sinh năm 1979.

Trú tại: Tổ A, thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 25-8-2021, Nguyễn Xuân T đến nhà Nguyễn Tiến Ph chơi và ăn cơm tại nhà Ph. Sau khi ăn cơm xong khoảng 11 giờ cùng ngày Nguyễn Tiến Ph rủ T lên Nhà máy Xi măng thuộc Công ty Cổ phần Xi măng và khoáng sản Yên Bái thuộc tổ 12, thị trấn Yên Bình, tinh Yên Bái với mục đích trộm cắp tài sản về bán kiếm tiền tiêu sài. T đồng ý và cùng Ph đi bộ lên Nhà máy Xi măng, khi đến khu vực sân kho vật tư của Nhà máy thì T và Ph phát hiện trước cửa kho vật tư có nhiều sắt tập kết ở đó. Quan sát thấy không có người Ph dùng tay nhấc một tấm ghi lạnh bằng kim loại (nặng 24,5 kg có giá trị 4.900.000đ) lên vai phải còn T cũng dùng tay nhấc một gáo gầu bằng kim loại (nặng 32kg có giá trị 256.000đ) lên vai phải. Trong quá trình đang vác về thì Ph và T bị ông Nguyễn Khắc H là nhân viên bảo vệ của Nhà máy đang đi tuần tra tại kho vật tư phát hiện. Ông H gọi điện cho ông Hoàng Nam H – Phó giám đốc Nhà máy biết sau đó ông H truy hô, Ph và T vứt lại gáo gầu và tấm ghi lạnh bỏ chạy mỗi người một hướng để tẩu thoát. T chạy về phía bên phải kho vật tư lên đồi cây và trốn thoát được còn Ph chạy theo hướng phía bên trái kho vật tư thì bị ông H và ông H phát hiện và bắt giữ cùng tang vật.

Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập Nguyễn Xuân T, tại Cơ quan điều tra Nguyễn Tiến Ph và Nguyễn Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Quá trình điều tra do được tại ngoại Nguyễn Xuân T đã bỏ trốn khỏi địa phương, ngày 06-11-2021 Nguyễn Xuân T đã đến Công an phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đầu thú sau khi biết mình bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái truy nã.

Tại Biên bản Kết luận định giá tài sản ngày 28-8-2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái kết luận:

Tổng giá trị tài sản định giá thuộc vụ án Trộm cắp tài sản xảy ra tổ 12, thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái ngày 25-08-2021 có giá trị là 5.156.000đ (Năm triệu một trăm năm mươi sáu nghìn đồng).

Bản Cáo trạng số: 33/CT-VKS-YB ngày 24-11-2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đã truy tố các bị cáo: Nguyễn Tiến Ph và Nguyễn Xuân T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội Trộm cắp tài sản. Các bị cáo đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 tấm ghi lạnh bằng kim loại và 01 gáo gầu bằng kim loại có tổng giá trị là 5.156.000đ của Công ty Cổ phần Xi măng và khoáng sản Yên Bái mục đích bán lấy tiền chi tiêu cho bản thân.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tiến Ph và Nguyễn Xuân T phạm tội Trộm cắp tài sản.

Đối với Nguyễn Tiến Ph:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 3 Điều 57, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Tiến Ph từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Đối với Nguyễn Xuân T:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 57, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Xuân T từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Do các bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Công ty Cổ phần Xi măng và khoáng sản Yên Bái không có yêu cầu hay đề nghị gì nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

+ Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản của Công ty Cổ phần Xi măng và khoáng sản Yên Bái mục đích bán lấy tiền chi tiêu cho bản thân.

+ Đại diện theo ủy quyền của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý các bị cáo theo quy định.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh:

Xem xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thấy phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản hiện trường, phù hợp với lời khai của người đại diện theo ủy quyền của bị hại, người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 20 ngày 25-8-2021 tại Nhà máy Xi măng thuộc Công ty Cổ phần Xi măng và khoáng sản Yên Bái thuộc tổ 12, thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, các bị cáo Nguyễn Tiến Ph và Nguyễn Xuân T đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 tấm ghi lạnh bằng kim loại và 01 gáo gầu bằng kim loại có tổng giá trị là 5.156.000đ của Công ty Cổ phần Xi măng và khoáng sản Yên Bái mục đích bán lấy tiền chi tiêu cho bản thân, do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái truy tố các bị cáo về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

.Về tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Trong vụ án này, việc các bị cáo đã bàn bạc, thống nhất cùng nhau đi trộm cắp tài sản nhưng không phân công cụ thể không có sự câu kết chặt chẽ với nhau nên các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn được quy định tại Điều 58 Bộ luật Hình sự, bị cáo Nguyễn Xuân T là người thực hành, bị cáo Nguyễn Tiến Ph vừa là người chủ mưu vừa là người thực hành nên sẽ chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn so với bị cáo T.

Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật Hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Do đó, cần có hình thức xử lý nghiêm minh để giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Xét nhân thân của các bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Tiến Ph: Ngày 10-5-2019 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (Chưa được xóa). Các bị cáo là người có sức khỏe, có khả năng điều khiển mọi hành vi hoạt động của bản thân, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng thiếu tu dưỡng rèn luyện bản thân, muốn có tiền để phục vụ nhu cầu của bản thân đã cố ý thực hiện tội phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Căn cứ biên bản hiện trường, biên bản bắt người phạm tội quả tang thấy rằng các bị cáo chưa dịch chuyển tài sản ra khỏi nơi quản lý của bị hại nên hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho các bị cáo. Ngoài ra bị cáo Nguyễn Xuân T còn được xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú, bị cáo có bố đẻ là người có công với nước được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất được quy định tại điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Tiến Ph có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là Tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy cần phải có mức hình phạt thỏa đáng tương xứng với mức độ phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội cũng như đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

. Về hình phạt bổ sung:

Hội đồng xét xử xét thấy bản thân các bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp, thu nhập, là đối tượng nghiện chất ma túy. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về vật chứng trong vụ án:

Toàn bộ vật chứng Cơ quan điều tra đã xử lý theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

.Về án phí:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tiến Ph và Nguyễn Xuân T phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Về hình phạt:

+ Đối với bị cáo Nguyễn Tiến Ph:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 3 Điều 57, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Ph 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 25-8-2021).

+ Đối với bị cáo Nguyễn Xuân T:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 57, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06-11-2021.

3. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Tiến Ph, Nguyễn Xuân T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

" Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7A, 7B và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự ".

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ