vanban.org

Bản án 44/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 29/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN HIỆP HÒA
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2021/HSST
Ngày 29/6/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Chung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Đức Lâm

Ông Bùi Thế Hanh

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Tươi - Kiểm sát viên.

Ngày 29/6/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2021/HSST ngày 26/4/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2021/QĐST-HS ngày 04/5/2021 và thông báo mở lại phiên tòa số:12/TB-TA ngày 21/6/2021, đối với bị cáo:

Họ và tên:Đào Văn H - sinh năm 2000.

Tên gọi khác: Không;

Giới tính: Nam;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn HĐ, xã ĐL, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

Nghề nghiệp: Tự do;

Trình độ văn hóa: Lớp 12/12;

Quốc tịch: Việt nam;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Con ông: Đào Văn Phượng, sinh năm 1974; Con bà: Nguyễn Thị Hải, sinh năm 1974; Vợ con: chưa có. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con út.

Tiền sự, Tiền án: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 15/3/2021 đến ngày 19/3/2021, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú ( có mặt).

* Người bị hại.

Họ và tên: anh Đào Văn T, sinh năm 1992 (có mặt)

Địa chỉ: thôn HĐ, xã ĐL, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có quan hệ họ hàng, ngày 11/3/2021,Đào Văn H có vay của anh Đào Văn T số tiền 10.000.000 đồng. Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 14/3/2021, Hạnh nhắn tin hẹn đến nhà anh Tuấn để trả số tiền vay. Sau đó, Hạnh mang theo 9.000.000 đồng đến nhà anh Tuấn thì thấy cổng khóa nên đứng chờ ở ngoài cổng, thấy chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98A-191.31 của anh Tuấn đang đỗ ở đó. Hạnh nhìn qua cửa kính xe ô tô phát hiện bên trong xe tại hốc nhựa xe ở vị trí giữa hai ghế ngồi phía trên có một tập tiền. Thấy vậy, Hạnh mở cửa xe phía bên lái thì mở được (do anh Tuấn quên không khóa cửa xe) nhưng sau đó lại đóng cửa xe lại. Hạnh quan sát xung quanh không có ai để ý nên đã nảy sinh ý định trộm cắp số tiền này của anh Tuấn. Thực hiện ý định đó, Hạnh mở cửa xe ô tô lấy trộm một tập tiền của anh Tuấn bao gồm nhiều mệnh giá khác nhau (Hạnh không đếm nên không biết là bao nhiêu tiền) rồi cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc. Lúc này, Hạnh gặp ông Đào Văn Luyến (bố đẻ anh Tuấn) đi chơi nhà hàng xóm về, Hạnh hỏi ông Luyến là “anh Tuấn có nhà không?” rồi đi về phía cổng nhà anh Đào Văn Hoàng, sinh năm 1993 (anh trai của Hạnh) ở sát nhà anh Tuấn để tìm nơi cất giấu tiền. Khi vào trong cổng nhà anh Hoàng, Hạnh thấy ở chỗ góc tường bao nối với mặt tiền có một đoạn tường thấp hơn tường bao và bị che khuất nên Hạnh đã giấu tập tiền ở đó rồi quay vào nhà anh Tuấn, trả anh Tuấn 10.000.000 đồng (gồm 9.000.000 đồng tiền mặt Hạnh mang theo trước đó và 1.000.000 đồng thông qua chuyển khoản bằng điện thoại) sau đó Hạnh đi về nhà.

Anh Tuấn sau khi kiểm tra phát hiện bị mất trộm số tiền hơn 50 triệu đồng để trong xe ô tô trước đó, đồng thời được ông Luyến cho biết trước đó thấy Hạnh đứng cạnh xe ô tô của anh Tuấn nên anh Tuấn đã đến nhà Hạnh để hỏi Hạnh có lấy số tiền trên của anh Tuấn không nhưng Hạnh không thừa nhận nên anh Tuấn đã làm đơn trình báo Công an xã Đông Lỗ, huyện Hiệp Hòa. Do lo sợ bị phát hiện nên khi anh Hoàng đến nhà Hạnh chơi, Hạnh đã nhờ anh Hoàng ra khu vực sườn tường tiếp giáp giữa nhà anh Hoàng và nhà anh Tuấn lấy tiền và cất giữ hộ. Sau đó, cùng ngày Hạnh đã đến Công an xã Đông Lỗ đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình, tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động. Sau khi biết sự việc, anh Hoàng đã tự nguyện đến Công an xã Đông Lỗ giao nộp số tiền mà Hạnh nhờ cất giấu. Thông qua việc kiểm đếm của Công an xã Đông Lỗ và những người liên quan đã xác định tổng số tiền mà Hạnh trộm cắp của anh Đào Văn T là 51.750.000đ (Năm mươi mốt triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Với nội dung trên tại bản Cáo trạng số 41/CT-VKS-HH ngày 22/4/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa để xét xử đối với bị cáoĐào Văn H có lý lịch nêu trên về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáoĐào Văn H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trình bầy luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b,s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 BLHS: xử phạtĐào Văn H từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng. Thời hạn tù tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Đông Lỗ, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Về trách nhiệm dân sự; Tài sản đã trả lại cho người bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét giải quyết.

Ngoài ra Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí.

Bị cáoĐào Văn H không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, người bị hại là anh Đào Văn T có mặt trình bày: Bị cáo trình bầy đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, anh Tuấn không có ý kiến gì và cũng không yêu cầu và đề nghị gì. Đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ TNHS cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hiệp hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố , xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của người làm chứng là anh Đào Văn Hoàng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, tuy nhiên đã có đầy đủ lời khai của họ trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng theo khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáoĐào Văn H có mặt đã hoàn toàn khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với hành vi phạm tội, lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng, tang vật thu giữ và các tài liệu khác do Cơ quan điều tra thu thập, đã có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 20 giờ ngày 14/3/2021, lợi dụng sơ hở anh Đào Văn T để tiền trong xe ô tô đỗ tại cổng nhà ở thôn HĐ, xã ĐL, huyện Hiệp Hòa cửa xe ô tô không khóa, Đào Văn H đã có hành vi mở cửa xe ô tô trộm cắp số tiền 51.750.000 đồng của anh Tuấn.

Điều đó đã có đầy đủ cơ sở khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáoĐào Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo Hạnh phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây nên sự hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung cho loại tội này.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo nhất thời phạm tội, sau khi phạm tội đã đến cơ quan điều tra đầu thú trả lại số tiền đã trộm cắp cho người bị hại đồng thời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ cho bị cáo. Bị cáo có ông nội là Đào Văn Mỹ đã có nhiều cống hiến cho Nhà nước trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước và được tặng nhiều Huân, Huy chương kháng chiến. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, thiệt hại chưa xảy ra, gia đình có công với cách mạng Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã trả lại cho người bị hại, người bị hại không yêu cầu bồi thường gì. Nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 có số imei: 356815110818771 của Hạnh giao nộp, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với anh Đào Văn Hoàng khai nhận chỉ cất số tiền nói trên giúp Hạnh theo như lời Hạnh nhờ, không hỏi về nguồn gốc số tiền, không biết đây là tiền do Hạnh phạm tội. Lời khai của Hoàng hoàn toàn phù hợp với lời khai của Hạnh. Do vậy cơ quan không xử lý đối với anh Hoàng là chính xác .

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm b,s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáoĐào Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt:Đào Văn H: 02 (hai năm) tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 29/6/2021. Giao bị cáo cho UBND xã Đông Lỗ, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáoĐào Văn H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 có số imei: 35681511081877117, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

4. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH.

Bị cáoĐào Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ