- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Lê Ng phạm tội " Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Lu…"
- Tòa quyết gì? *Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Khoản 1 khoản, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H L TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2021/HSST Ngày 23/7/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
_______________________
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H L – TỈNH THANH HÓA
-Với Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Chuyên
Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Nam Văn
Bà Trương Thị Hà
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lê – Thư ký Tòa án
Toà án nhân dân huyện H L.
-Đại diện VKS nhân dân huyện H L tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Văn Bằng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2021/HSST ngày 24 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét số: 43/2021/QĐXX-HSST ngày 13 tháng 7 năm 2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Lê Ng - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh năm: 1971 tại xã Th L, huyện H L, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT: Thôn Th Đ, xã Th L, huyện H L, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Không biết chữ. Tiền án, tiền sự: Không. Họ và tên bố: Phạm Lê Đ - (đã chết). Họ và tên mẹ: Lại Thị B - (đã chết). Gia đình có 11 anh, chị em, bị cáo là con thứ mười. Vợ: Lê Thị Q – Sinh năm 1973. Bị cáo có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2008
Bản thân được bố mẹ nuôi dưỡng nhưng không đi học nên không biết chữ, lớn lên xây dựng gia đình và làm lao động tự do tại địa phương. Quá trình hoạt động của bản thân chưa lần nào vi phạm pháp luật.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/3/2021. Hiện đang tại ngoại tại địa phương. Bị cáo có mặt phiên tòa.
*Những người tham gia tố tụng:
* Người bị hại:
Ông Trịnh Văn S - sinh năm 1959 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn Th Đ, xã Th L, huyện H L, Thanh Hóa.
* Người làm chứng:
1. Bà Lê Thị Q - sinh năm 1973 (Vắng mặt)
2. Bà Lê Thị Nh - sinh năm 1961 (Có mặt)
3. Bà Phạm Thị N - sinh năm 1954 (Vắng mặt)
4. Chị Trịnh Thị T - sinh năm 1985 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn Th Đ, xã Th L, huyện H L, Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN
Phạm Lê Ng, sinh năm 1971 và ông Trịnh Văn S, sinh năm 1959 cùng trú tại thôn Th Đ, xã Th L, huyện H L, tỉnh Thanh Hóa.
Khoảng năm 2019, Phạm Lê Ng được chị gái là bà Phạm Thị N, sinh năm 1954 trú cùng thôn cho một cây bạch đàn ở bờ ruộng nhà bà N thuộc khu vực thôn Th Đ, xã Th L. Ngày 16/01/2021, Ng bán cây bạch đàn cho hai người đàn ông không biết tên và địa chỉ với giá 1.200.000đồng. Ngày 17/01/2021, người mua đã cưa và vận chuyển thân cây, còn phần cành cây thì để lại. Khoảng 17h ngày 17/01/2021, ông S đang ở nhà thì nhận được điện thoại của con gái với nội dung: “Bố ơi xuống lôi củi cho mẹ” . Ông S đi ra khu vực cánh đồng thôn Th Đ thì thấy bà Lê Thị Nh (vợ ông S) đang dùng dao chặt các cành cây bạch đàn ở dưới ruộng, ông S hỏi bà Nh: “Cây đâu mà bà lấy ?” Bà Nh đáp: “Mấy anh mua cây cho, nên tôi lấy”. Sau đó, ông S đi xuống ruộng cùng bà Nh chặt, cưa các cành cây bạch đàn. Đến khoảng 19h cùng ngày, khi hai vợ chồng ông S đang chặt cành cây thì Phạm Lê Ng đeo đèn pin trên đầu, từ trong nhà mình đi đến bờ ruộng chỗ vợ chồng ông S và nói: “Ai cho ông chặt trộm cây”, bà Nh nói lại: “Ăn trộm gì mấy cành cây, chú cứ điện cho mấy chú mua cây xem”. Ng chửi: “Điện cái đầu c… tao đây”, ông S nói: “A thằng ni láo”. Lúc này, bà Lê Thị Q, sinh năm 1973 (là vợ Ng) cũng từ nhà đi ra, đến chỗ bà Nh thì hai người xảy ra chửi bới, giằng co, xô đẩy nhau dưới ruộng. Sau khi nghe Ng nói vậy nên ông S cầm con dao tông đang dùng để chặt cành cây đi lại gần vị trí Ng đang đứng, thì Ng cầm chiếc cưa (loại cầm tay, cán bằng gỗ) thúc đầu cán cưa vào miệng ông S, làm ông S bị chảy máu, gãy 01 chiếc răng cửa và 03 chiếc răng khác bị lung lay. Lúc này, ông S tay cầm dao tông lia về phía Ng, Ng cầm cưa giơ lên đỡ nên cưa bị gãy, Ng ném cưa về phía ông S rồi bỏ chạy ra bãi cỏ. Thấy bà Q đang đứng gần đó, ông S liền lao tới dùng tay xô bà Q ngã, rồi giơ dao sát cổ bà Q để doạ, ông S nói: “Cỡ vợ chồng bay tao mà chặt thì vợ chồng bay chết ngay”. Bà Q đáp lại: “Tao thách”, Ng đứng gần đó, nói tiếp: “Ông có giỏi chém nó một lát cho chết mẹ nó đi”. Sau đó, Ng lấy 01 đoạn gỗ tròn (dạng cành cây xoan) dài 71cm, đường kính hai đầu lần lượt 04cm và 05cm lao tới đánh 01 cái trúng vào bàn tay phải đang cầm dao của ông S. Ông S giơ dao lên tiến về phía Ng, Ng cầm đoạn cành xoan trên tay đánh liên tiếp trúng vào cổ tay trái và vai trái của ông S. Ông S liền vứt dao và lấy 01 cành cây bạch đàn (chiều dài 196cm, đường kính hai đầu lần lượt 1,2cm và 2,7cm, bề mặt cành cây có nhiều mắt) đánh liên tiếp 03 cái trúng vào đỉnh đầu và bàn tay phải của Ng, Ng cầm gậy vụt tiếp ông S 01 cái nhưng không trúng người. Bà Q thấy ông S đánh chồng mình nên liền lấy 01 đoạn cành xoan (chiều dài 145cm, đường kính hai đầu lần lượt 1,2cm và 2,5cm) vụt nhiều cái về phía ông S và bà Nh nhưng không trúng ai. Sau đó, bà Q đưa Ng về nhà, vợ chồng ông S cũng đi về nhà.
Phạm Lê Ng về nhà, sau đó đến trạm y tế xã Th L sơ cứu và băng bó vết thương. Khi đi ra đầu ngõ thì Ng gặp chị Trịnh Thị T, sinh năm 1985 là con gái ông S, do bực tức vì bị ông S đánh nên Ng dùng tay tát vào mặt chị T 01 cái. Ông Trịnh Văn S sau khi về nhà cũng được gia đình đưa đến Bệnh viện Đa khoa Hợp Lực điều trị thương tích từ ngày 18/01/2021 đến ngày 20/01/2021.
- Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ông Trịnh Văn S vào hồi 20h15 phút ngày 17/01/2021 ghi: 01 vết sưng nề bả vai trái kích thước 05 x 06cm; 01 vết sưng nề tại ngón út tay phải; 01 vết sưng nề tại cổ tay trái không rõ hình dạng dài 22cm; gãy 01 răng cửa hàm dưới và lung lay 03 cái răng bên cạnh.
- Tại Bệnh án ngoại khoa số 1627 ngày 20/01/2021 của bệnh viện Đa khoa Hợp Lực Thanh Hoá xác định: Vỡ xương mỏm cùng vai trái, gãy xương bàn 5 tay phải, chấn thương phần mềm nhiều nơi, chấn thương hàm mặt.
Ngày 25/02/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H L đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 14/QĐ- ĐTTH trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa giám định tỷ lệ tổn hại % sức khỏe do thương tích gây nên cho ông Trịnh Văn S.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 137/2021/TTPY ngày 04 tháng 3 năm 2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận:
- Chấn thương sưng nề ngón út (ngón V) bàn tay phải gây tổn thương gãy xương bàn V tay phải; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng hình ảnh gãy đầu xa xương bàn V bàn tay phải, chức năng bàn tay, ngón tay bên phải không hạn chế: 06% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; chương 7; mục V; 4.1).
- Chấn thương sưng nề bả vai trái gây tổn thương gãy xương mỏm cùng vai trái; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng hình ảnh rạn vỡ xương mỏm cùng vai trái: 06% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; chương 7; mục I; 6.2).
- Chấn thương vùng răng cửa hàm dưới gây tổn thương gãy răng R3.1; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng hình ảnh khuyết mất răng R3.1: 02% (Thông tư 22/2019/TT-BYT; Bảng 1; chương 11; mục II; 1.2.1).
- Các chấn thương, vết thương phần mềm khác đã được điều trị; hiện tại không để lại sẹo vết thương phần mềm, không có di chứng tổn thương chức năng do chấn thương: 0% (không phần trăm).
Tại thời điểm giám định pháp y về thương tích: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Trịnh Văn S được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (Điều 4- Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ y tế) là 13% (Mười ba phần trăm).
Ông Trịnh Văn S điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Hợp Lực Thanh Hoá từ ngày 18/01/2021 đến ngày 20/01/2021 ra viện, T trạng khi ra viện: Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, nghỉ ốm 07 ngày, tái khám sau 07 ngày, điều trị theo đơn.
Ông Trịnh Văn S và bị cáo Phạm Lê Ng đã được thông báo nội dung bản kết luận giám định pháp y về thương tích; bị hại và bị cáo đều đồng ý với kết quả giám định và không ai có đề nghị hay yêu cầu gì.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trịnh Văn S yêu cầu bị cáo Phạm Lê Ng phải bồi thường số tiền chi phí điều trị, ngày công người chăm sóc, ngày công lao động và bồi thường một lần với tổng số tiền là 29.589.600đồng ( Hai mươi chín triệu năm trăm tám mươi chín nghìn sáu trăm đồng). Ngày 23/5/2021 bị cáo Phạm Lê Ng đã tự nguyện bồi thường cho ông Trịnh Văn S số tiền 5.000.000đồng (Năm triệu đồng chẵn), số tiền con lại bị cáo và ông S đã thỏa thuận bồi thường xong.
Về vật chứng của vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 đoạn gỗ ( dạng cành cây xoan) kích thước dài 71cm, đường kính lần lượt 04cm và 4,5cm, trên bề mặt vỏ có nhiều vết trầy xước tróc vỏ và dính bùn đất; 01 chiếc cưa tay đã bị bung bật ra các phần riêng biệt gồm: Tay cầm bằng gỗ dài 25cm, tiết diện hình vuông, rộng 2,7cm, lưỡi cưa dài 48cm, rộng 02cm; thanh kim loại giằng cưa dài 57cm, rộng 1,8cm; đoạn chống của cưa bằng tre dài 50,5cm, tiết diện hình tròn đường kính 2,5cm; 01 con dao (loại dao tông), dài 43cm, cán dao bằng kim loại, phần lưỡi dài 30cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 6,5cm; 01 đoạn cành cây (loại gỗ xoan) dài 145cm, đường kính hai đầu lần lượt là 1,2cm và 2,5cm. Hiện đang bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H L, chờ xử lý.
Đối với ông Trịnh Văn S đã có hành vi gây thương tích cho Phạm Lê Ng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H L đã tách hồ sơ, tiến hành khởi tố điều tra bằng một vụ án khác. Phạm Lê Ng đã rút đơn yêu cầu khởi tố đối với ông S. Vụ án đã được đình chỉ.
Chị Trịnh Thị T bị Phạm Lê Ng dùng tay tát vào mặt, nhưng thương tích không đáng kể nên chị T không phải điều trị tại cơ sở y tế và không yêu cầu xử lý đối với Phạm Lê Ng.
*Tại bản Cáo trạng 44/CT- VKSHL ngày 23/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H L truy tố bị cáo Phạm Lê Ng về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự.
*Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H L giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Khoản 1 , khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a , c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
*Xử phạt: Bị cáo Phạm Lê Ng từ 24 đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng đến 60 tháng.
*Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo Phạm Lê Ng và người bị hại ông Trịnh Văn S đã thỏa thuận xong việc bồi thường thiệt hại, tại phiên tòa ông S không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
*Về xử lý vật chứng : Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn gỗ ( dạng cành cây xoan) kích thước dài 71cm; 01 chiếc cưa tay đã bị bung bật ra các phần riêng biệt; 01 đoạn cành cây (loại gỗ xoan) dài 145cm của Phạm Lê Ng; 01 con dao (loại dao tông) của ông Trịnh Văn S. Là vật chứng của vụ án. Đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 31/BBVC- CCTHA ngày 24/6/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H L.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, của bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét về hành vi: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại và những người làm chứng về thời gian, địa điểm và thương tích xảy ra, có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 19h ngày 17/01/2021, tại khu vực cánh đồng thuộc địa phận thôn Th Đ, xã Th L, huyện H L, Phạm Lê Ng đã dùng 01 chiếc cưa tay dài 57cm và 01 đoạn gậy (dạng cành xoan) dài 71cm (là hung khí nguy hiểm), đánh vào người ông Trịnh Văn S, làm cho ông S bị tổn thương cơ thể là 13% (Mười ba phần trăm).
Như vậy Cáo trạng số 44/CT- VKSHL ngày 23/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H L truy tố bị cáo Phạm Lê Ng về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ vụ án thấy rằng:
Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ, xâm hại đến trật tự an toàn xã hội, do vậy cần phải xử lý bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với hành vi và H quả mà bị cáo đã gây ra, nhằm cải tạo và giáo dục bị cáo trở Th người lương thiện và làm bài học giáo dục, răn đe phòng ngừa chung
Xét về nhân thân và các T tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Trước khi phạm tội bị cáo là người lương thiện chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội bị cáo đã Th khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, nên bị cáo được hưởng các T tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu T tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét thấy: Xuất phát từ những mâu thuẫn trong cuộc sống hàng ngày nên ngày 17/01/2021 giữa bị cáo và người bị hại đã xẩy ra xô xát, kết quả là cả bị cáo và người bị hại đã gây thương tích cho nhau (bị cáo Ng đã gây thương tích cho ông S là 13% ; Ông S đã gây thương tích cho bị cáo Ng 03% ) cả hai đều bị truy tố về tội cố ý gây thương tích, với T tiết định khung là “Dùng hung khí nguy hiểm”. Trong quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử bị cáo Ng đã rất ân hận về việc đã gây thương tích cho ông S, nên bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại cho ông S và viết đơn xin rút yêu cầu khởi tố đối với ông S. Tại phiên tòa bị cáo Ng thực sự ăn năn, hối cải và có lời xin lỗi gia đình ông S. Để làm giảm thiểu mâu thuẫn giữa hai gia đình bị cáo Ng và gia đình ông S, góp phần ổn định T hình an ninh, trật tự tại địa phương.
Căn cứ tính chất mức độ phạm tội của bị cáo cùng với đặc điểm nhân thân, các T tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trên cơ sở quy của pháp luật hình sự thấy rằng không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật mà lấy đó làm bài học kinh nghiệm, mà tu dưỡng rèn luyện bản thân sớm trở Th người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội sau này.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo Phạm Lê Ng và người bị hại ông Trịnh Văn S đã thỏa thuận xong việc bồi thường thiệt hại, tại phiên tòa ông S không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
Về xử lý vật chứng : Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng gồm:
01 đoạn gỗ ( dạng cành cây xoan) kích thước dài 71cm; 01 chiếc cưa tay đã bị bung bật ra các phần riêng biệt; 01 đoạn cành cây (loại gỗ xoan) dài 145cm của Phạm Lê Ng; 01 con dao (loại dao tông) của ông Trịnh Văn S. Đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 31/BBVC- CCTHA ngày 24/6/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H L.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
*Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Khoản 1 khoản, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331 ; 332 ; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Về án phí, lệ phí Tòa án.
*Tuyên bố: Bị cáo Phạm Lê Ng phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
*Xử phạt: Bị cáo Phạm Lê Ng 24 (Hai mươi tư) tháng tù cho hưởng án treo, Thời gian thử thách là 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
Giao bị cáo cho chính quyền địa phương xã Th L, huyện H L, tỉnh Thanh Hóa quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.
*Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cứ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.(Năm 2019)
“ Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
*Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng gồm:
- 01 đoạn gỗ (dạng cành cây xoan) kích thước dài 71cm, đường kính lần lượt 04cm và 4,5cm, trên bề mặt vỏ có nhiều vết trầy xước tróc vỏ và dính bùn đất; - 01 chiếc cưa tay đã bị bung bật ra các phần riêng biệt gồm: Tay cầm bằng gỗ dài 25cm, tiết diện hình vuông, rộng 2,7cm, lưỡi cưa dài 48cm, rộng 02cm; thanh kim loại giằng cưa dài 57cm, rộng 1,8cm; đoạn chống của cưa bằng tre dài 50,5cm, tiết diện hình tròn đường kính 2,5cm; - 01 con dao (loại dao tông), dài 43cm, cán dao bằng kim loại, phần lưỡi dài 30cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 6,5cm; - 01 đoạn cành cây (loại gỗ xoan) dài 145cm, đường kính hai đầu lần lượt là 1,2cm và 2,5cm. Theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 31/BBVC-CCTHA ngày 24/6/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H L.
*Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Lê Ng phải nộp 200.000đ án phí HSST.
*Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận - VKSND huyện H L; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an huyện H L; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - Bị cáo, Bị hại; - Chị cục THA huyện H L; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Xuân Chuyên |