- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Tuấn A, phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lường Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 44/2021/HSST Ngày: 24-11-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lò Thị Cải
2. Bà Lò Thị Ánh Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà – Thư ký viên, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Nhữ Thị Thanh Nhàn – Kiểm sát viên.
Ngày 24/11/2021, tại phòng xét xử 1, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2021/HSST ngày 05/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2021/QĐXXST-HS ngày 12/11/2021 đối với bị cáo:
Họ tên: Lường Tuấn A ; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1994; tại: Điện Biên; Nơi ĐKHKTT: Bản Y, xã Sam Mứn, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lường Văn Ph và bà: Quàng Thị Th; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị cơ quan nhà nước xử phạt vi phạm hành chính lần nào; bị xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 242/2018/HSST, ngày 09/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, ngày 30/3/2019 bị cáo chấp hành xong bản án. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 22/9/2021. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 22/9/2021, Lường Tuấn A đi bộ từ nhà đến bản Xôm, xã Thanh An, huyện Điện Biên với mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực bụi tre thuộc bản Xôm, xã Thanh An, A gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Thái, khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ 01 gói Heroine và 01 gói Hồng phiến với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, A nhặt một mảnh nilon màu xanh rồi gói bên ngoài toàn bộ số ma túy vừa mua được và dùng 01 bật lửa ga hơ lửa hàn kín miệng gói ma túy lại, sau đó A cất giấu gói ma túy ở tay trái rồi đi bộ về. Đến 18 giờ 55 phút cùng ngày, khi A đang đi trên đường thuộc bản Xôm, xã Thanh An, huyện Điện Biên thì bị Tổ công tác Công an huyện Điện Biên phối hợp với Công an xã Thanh An kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại tay trái A đang cầm 01 gói nilon màu xanh, mở bên trong có 02 gói gồm: 01 gói nilon màu đen bên trong có các cục bột mầu trắng (nghi Heroine) và 01 gói nilon màu trắng bên trong có 02 viên nén mầu hồng (nghi ma túy tổng hợp). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Tại bản kết luận giám định số: 1113/GĐ - PC09, ngày 30/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu vật chứng thu giữ của Lường Tuấn A gửi giám định gồm: Mẫu các viên nén mầu hồng là ma túy; loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,19 gam; mẫu chất bột mầu trắng là ma túy; loại Heroine có khối lượng: 0,28 gam
Tại phiên tòa bị cáo Lường Tuấn A một lần nữa đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Tại bản Cáo trạng số: 300/CT-VKSĐB ngày 05/11/2021, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Lường Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa trong phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Vật chứng của vụ án là 0,19 gam Methamphetamine đã trích toàn bộ gửi giám định, mẫu vật hoàn lại sau giám định là: 0,11 gam; 0,28 gam Heroine đã trích toàn bộ gửi giám định, mẫu vật hoàn lại sau giám định là: 0,19 gam cần bị tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho mình, cũng như không có ý kiến gì tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát về bản luận tội.
Lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm án, ngoài ra bị cáo không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi của bị cáo: Ngày 22/9/2021, Lường Tuấn A bị bắt quả tang khi đang cất giấu 0,19 gam Methamphetamine và 0,28 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng. Với hành vi và khối lượng 02 chất ma túy bị thu giữ thì bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo tàng trữ 02 chất ma túy, theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì khối lượng của các chất ma túy bị cáo cất giấu là 0,47 gam (0,28 gam Heroine + 0,19 gam Methamphetamine = 0,47 gam). Tổng khối lượng 02 chất ma túy thu giữ của bị cáo tương đương với khối lượng chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thì hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn tiếp tay cho những kẻ chuyên buôn bán các chất ma túy tồn tại và phát triển, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Điện Biên nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là tội phạm nghiêm trọng, vì vậy hành vi của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 242/2018/HSST, ngày 09/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, ngày 30/3/2019 bị cáo chấp hành xong bản án, đến ngày phạm tội mới bị cáo đã được xóa án tích. Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, đã từng bị Tòa án xét xử nhưng không lấy đó là bài học, khối lượng 02 chất ma túy bị cáo tàng trữ là 0,47 gam nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và để bị cáo có điều kiện cai nghiện ma túy. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về hành vi và các Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đã thực hiện đều hợp pháp Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, thu nhập chỉ dựa vào làm ruộng nên không có khả năng thi hành, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo do bị cáo không biết tên, địa chỉ Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Biện pháp tư pháp và việc xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là 0,19 gam Methamphetamine đã trích toàn bộ gửi giám định, mẫu vật hoàn lại sau giám định là: 0,11 gam; 0,28 gam Heroine đã trích toàn bộ gửi giám định, mẫu vật hoàn lại sau giám định là: 0,19 gam cần bị tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lường Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Lường Tuấn A 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là 22/9/2021.
3. Biện pháp tƣ pháp và việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,
- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định gồm: 0,11 gam Methamphetamine và 0,19 gam Heroine.
(Vật chứng của vụ án đã được cơ quan Điều tra Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/11/2021).
4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/11/2021).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐB; - VKSND h. ĐB; VKSND tỉnh ĐB; - Cơ quan ĐT + Nhà tạm giam, giữ h. ĐB; - Bộ phận HSNV Công an h. ĐB; - Sở Tư pháp t. Điện Biên +THA H.Sự; - Chi cục THADS h. ĐB; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Thu Hƣơng |