vanban.org

Bản án 44/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Chí Linh, tỉnh Hải Dương Tuyên án 21/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức C, Nguyễn Văn H, Mạc Văn V và Mạc Văn T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu huỷ 01 chiếc ghế nhựa màu xanh đã bị vỡ thành nhiều mảnh; 02 chiếc dép nhựa màu trắng; 02 chiếc giầy vải màu xám, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức C cùng đồng phạm - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức C, Nguyễn Văn H, Mạc Văn V và Mạc Văn T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2021/HS - ST
Ngày: 21 - 5 - 2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Sinh, ông Đới Văn Trinh.

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Thái Long - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương và ông Nguyễn Như Sáng - Kiểm sát V.

Ngày 21 tháng 5 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2021/TLST - HS ngày 22/3/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2021/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 4 năm 2021, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Đức C, sinh năm 1992 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương.

Nơi cư trú: Khu dân cư Đ, phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức Th và bà Nguyễn Thị B; có vợ là Đặng Thị H (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/10/2020 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương, có mặt.

2. Nguyễn Văn H, sinh năm 1984 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương.

Nơi cư trú: Khu dân cư N, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị C; có vợ là Đỗ Thị Mvà 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

3. Mạc Văn V, sinh năm 1983 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương.

Nơi cư trú: Khu dân cư N, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mạc Văn V và bà Đinh Thị B; có vợ là Ngô Thị M và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

4. Mạc Văn T, sinh năm 1983 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương.

Nơi cư trú: Khu dân cư N, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mạc Văn S và bà Đoàn Thị T; có vợ là Nguyễn Thị H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

Những người làm chứng:

- Anh Phạm Bá Q, sinh năm 1984

Nơi cư trú: Khudâncư M, phường Đ, thànhphốC,tỉnh Hải Dương.

- Anh Vũ Đình H1, sinh năm 1984

Nơi cư trú: Khudâncư N, phường T,thànhphốC,tỉnh Hải Dương

- Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1978

Nơi cư trú: Khu dân cư L, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương

- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983

Nơi cư trú: Khu dân cư L, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 03/10/2020, Phạm Bá Q gọi điện cho Nguyễn Văn H hẹn nhau uống bia tại quán của anh Nguyễn Văn S thuộc khu dân cư L, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Khi đến quán, Q và H ngồi uống bia tại bàn số 03 (theo hướng từ cửa vào), một lúc sau H gọi điện cho Mạc Văn T đến uống bia. Sau đó, T rủ Mạc Văn V đi cùng. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Đức C cùng Vũ Đình H1 đến quán bia của anh S và ngồi tại bàn số 01 (theo hướng từ cửa vào). Hai bàn ngồi uống bia đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, thì C đi sang khu vực bàn số 03 của Q, H, V, T để hút thuốc lào, rồi ở lại bàn ngồi giao lưu uống bia cùng. Một lúc sau, H1 cũng sang bàn số 03 để giao lưu cùng với H, V, Q, T. Trong quá trình ngồi uống bia với nhau thì C xảy ra mâu thuẫn với H về việc H nói C xăm trổ và hai người có to tiếng với nhau. Lúc này, C tức giận chửi H và nói “sao mày chửi tao nhiều thế” rồi đập ghế nhựa xuống đất làm gãy ghế. Sau đó C tiếp tục cầm cốc uống bia bằng thủy tinh có quai đi ra cửa, vừa đi vừa nói “Đ.m chúng mày nghĩ bố sợ chúng mày à” rồi ném cốc về phía H làm cốc bị vỡ nhưng không trúng người H. Sau đó, C đi ra ngoài thì V giữ lại và nói “Đ.m chúng mày thích hổ báo à”, hai bên xảy ra xô đẩy, chửi bới nhau. Lúc này, H, T đi ra cùng với V dùng tay chân đấm đá về phía C, còn C cũng dùng tay chân đấm đá lại, C đấm 01 cái vào vùng mặt V. Cả hai bên đánh nhau từ vỉa hè của quán bia đến khu vực giữa lòng đường trước cửa quán nhà anh S thì C rút từ trong túi quần bên phải ra một con dao, loại dao gấp dài 12,5 cm, khi mở lưỡi dao dài 22,5cm, lưỡi nhọn một cạnh sắc, phần tay cầm ốp gỗ màu nâu dơ lên và nói “chúng mày đừng vào đây”, nhưng H, V, T vẫn lao vào nên C đã bấm lưỡi dao ra và vung về phía H, V, T. Quá trình C vung dao, khua khoắng phía trước ngang người thì trúng 01 nhát vào phía ngực bên phải, 01 nhát vào phía dưới mạn sườn bên trái gần bụng và 01 nhát vào đùi bên phải Nguyễn Văn H, trúng 01 nhát vào mu bàn tay bên phải Mạc Văn V. Khi T lao vào ôm giữ C từ phía sau, bị C dùng dao đâm ngược lại trúng 01 nhát vào vai trái của T, bị đau T bỏ tay ra, C bỏ chạy về phía vỉa hè bên đường đối diện quán bia thì H, V đuổi theo C, đến giữa vỉa hè thì V vật C ngã xuống nền vỉa hè rồi ngồi ghì đè lên bụng C. Lúc này, T lao đến và nói“Đ.m mày bố đấm chết mày” rồi cùng với H, V tiếp tục đấm đá vào mặt, đầu, người C. Thấy vậy, H1 chạy vào can ngăn và nói “các anh có gì thì nói chuyện với nhau” rồi nằm ôm che cho C nhưng bị H, V, T dùng tay chân, đấm, đá vào người, một lúc sau thì H bị mất nhiều máu ngã nằm ra vỉa hè cách vị trí C nằm khoảng một mét. Sau đó, anh S chủ quán bia chạy ra can ngăn thì hai bên dừng lại và gọi xe đưa các H, V, T, C và H1 đi cấp cứu. Vụ việc Nguyễn Đức C, Mặc Văn T, Mạc Văn V và Nguyễn Văn H có hành vi chửi nhau, đập phá tài sản, đánh nhau gây thương tích kéo dài từ phía trong quán bia, ra khu vực trước cửa quán, xuống phía dưới lòng đường và chạy sang khu vực vỉa hè đối diện cửa quán là khu vực đông dân cư, đã gây ảnh hưởng xấu đến anh ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, tạo dư luận xấu, bức xúc trong quần chúng nhân dân.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 317a/TgT ngày 17/11/2020 của Phòng giám định pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương đối với Mạc Văn V, hiệu chính qua giám định:

- Chấn thương gãy xương chính mũi. Hiện ổn định. Có đặc điểm do vật tày gây ra. Được xác định mức độ tổn hại sức khoẻ do thương tích gây ra là: 08%.

- Sẹo vết thương phần mềm vùng mu bàn tay phải kích thước trung bình. Có đặc điểm do vật sắc gây ra. Được xác định mức độ tổn hại sức khoẻ do thương tích gây ra là: 02%.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Mạc Văn V do thương tích gây lên là 10%.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 317b/TgT ngày 17/11/2020 của Phòng giám định pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương đối với Nguyễn Văn H, dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo vết thương phần mềm vùng ngực phải, kích thước trung bình. Được xác định mức độ tổn hại sức khoẻ do thương tích gây ra là: 02%.

- Sẹo vết thương phần mềm vùng bụng ở mạn sườn trái, kích thước trung bình. Được xác đinh mức độ tổn hại sức khoẻ do thương tích gây ra là: 02%.

- Các tổn thương trên có đặc điểm do vật sắc nhọn gây ra, anh H bị người khác dùng dao nhọn đâm gây ra là phù hợp.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn H do thương tích gây lên là 4%.

Tại Kết luận giám định bổ sung pháp y về thương tích số 45/GĐBS ngày 31/12/2020 của Phòng giám định pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương đối với Nguyễn Văn H, dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo vết thương phần mềm vùng mặt trước trong 1/3 dưới đùi phải kích thước nhỏ.

- Tổn thương trên có đặc điểm do vật sắc nhọn gây ra, anh H bị người khác dùng dao nhọn đâm gây ra là phù hợp,

Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn H do thương tích gây lên là 01%.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 343/TgT ngày 17/12/2020 của Phòng giám định pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương đối với Mạc Văn T, dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo vết thương phần mềm vùng bờ trước vai trái kích thước nhỏ.

- Tổn thương có đặc điểm do vật sắc nhọn gây ra, T bị người khác dùng dao

nhọn đâm gây ra là phù hợp.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Mạc Văn T do thương tích gây lên là 1%.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 01/TgT ngày 13/01/2021 của Phòng giám định pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương đối với Nguyễn Đức C, dấu hiệu chính qua giám định:

- Chấn thương gây xây xát, sưng nền, bầm tím, xung huyết tụ máu vùng thái dương phải, củng mạc mắt phải, cổ phải, cổ trái. Hiện toàn thân không phát hiện dấu vết tổn thương, di chứng. Căn cứ vào Thông tư số 22/2019/BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế thì không xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra với những tổn thương này.

- Các tổn thương trên có đặc điểm do vật tày gây ra.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Đức C là 0%.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 25/TgT ngày 01/3/2021 của Phòng giám định pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương đối với Vũ Đình H1, dấu hiệu chính qua giám định:

- Chấn thương gây xây xát, sưng nề, bầm tím, xung huyết tụ máu vùng chẩm trái, cùng mạc mắt phải, hàm dưới bên phải, cổ phải. Hiện toàn thân không phát hiện dấu vết tổn thương, di chứng. Căn cứ vào Thông tư số 22/2019/BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế thì không xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra với những tổn thương này.

- Các tổn thương trên có đặc điểm do vật tày gây ra.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Vũ Đình H1 là 0%.

Sau khi xảy ra vụ việc, Mạc Văn V, Mạc Văn T và Nguyễn Văn H đều không có yêu cầu khởi tố đối với Nguyễn Đức C, không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự. Nguyễn Đức C và Vũ Đình H1 không có yêu cầu đề nghị gì về thương tích.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị can Nguyễn Đức C đã tác động gia đình bồi thường cho Nguyễn Văn H số tiền 10.000.000 đồng. Mạc Văn V, Mạc Văn T, Nguyễn Đức C và anh Vũ Đình H1 xác đinh đều bị thương tích nhẹ, hiện tại đã được điều trị ổn định, không yêu cầu bồi thường gì về trách nhiệm dân sự. Anh Nguyễn Văn S xác định thiệt hại của quán nhỏ nên không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường.

Tại Cáo trạng số 16/CT - VKS - CL ngày 19/3/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức C về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Văn H, Mạc Văn V và Mạc Văn T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Các bị cáo thành khẩn khai nhận tội, xác định việc truy tố của Viện kiểm sát nhân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đối với mình là đúng và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đức C. Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 36, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn H, Mạc Văn V và Mạc Văn T. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C từ 27 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 05/10/2020. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao bản án, quyết định thi hành án. Xử phạt các bị cáo Mạc Văn V và Mạc Văn T mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao bản án, quyết định thi hành án. Khấu trừ 5% thu nhập hàng tháng của các bị cáo H, V và T để sung quỹ Nhà nước; về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết; về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu cho tiêu hủy 01 chiếc ghế nhựa màu xanh đã bị vỡ thành nhiều mảnh; 02 chiếc dép nhựa màu trắng; 02 chiếc giầy vải màu xám, 01 chiếc dép nhựa kiểu tông quai màu đỏ, đen và 01 dao bằng kim loại, loại dao gấp, khi gấp lại dài 12,5cm, khi mở lưỡi dao dài 22,5 cm, lưỡi nhọn một cạnh sắc, phần tay cầm ốp gỗ màu nâu; về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Điều tra V, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát V trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của những người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ 22 giờ 40 phút đến 22 giờ 55 phút ngày 03/10/2020, tại quán bán bia của anh Nguyễn Văn S, ở khu dân cư L, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương, do mâu thuẫn từ lời nói qua lại trong quán bia, Nguyễn Đức C có hành vi đập 01 ghế nhựa xuống nền nhà và ném 01 cốc thủy tinh về phía Nguyễn Văn H nhưng không trúng ai, làm ghế và cốc bị vỡ. Khi ra trước cửa quán bia, Mạc Văn V, Mạc Văn T và Nguyễn Văn H tiếp tục cãi chửi nhau với Nguyễn Đức C, hai bên dùng chân tay đấm đá nhau. Sau đó, Nguyễn Đức C dùng 01 con dao, loại dao gấp có mũi nhọn khua khoắng về phía H, V, T. Hai bên đánh đuổi nhau ra giữa lòng đường, sang vỉa hè bên đường đối diện thì được can ngăn và dừng lại. Hậu quả Mạc Văn V bị tổn hại 10% sức khỏe, Nguyễn Văn H bị tổn hại 5% sức khoẻ, Mạc Văn T bị tổn hại 1% sức khoẻ. Các bị cáo V, H, T không yêu cầu khởi tố đối C về hành vi cố ý gây thương tích.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân. Các bị cáo đều là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý. 04 bị cáo có hành vi chửi nhau, đập phá tài sản, đánh nhau gây thương tích kéo dài từ phía trong quán bia của gia đình anh S, ra khu vực trước cửa quán, xuống phía dưới lòng đường và chạy sang khu vực vỉa hè đối diện của quán là khu vực đông dân cư đã gây ảnh hưởng xấu đến anh ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Bị cáo C có hành vi dùng hung con dao là khí nguy hiểm; các bị cáo V, T và H chỉ có hành vi chửi bới và dùng tay chân đấm đá C. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo C về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo V, T và H về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luât hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Trong vụ án, bị cáo C giữ vai trò độc lập. Các bị cáo V, T và H là đồng phạm đều là người thực hành. Tuy nhiên, bị cáo H là người xảy ra mâu thuẫn với C trước nên H có vai trò cao hơn các bị cáo V và T.

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai nhận tội, biết tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi của mình nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo V, T và H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo C khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo mục đích trừng trị, giáo dục bị cáo và răng đe, phòng ngừa tội phạm. Các bị cáo V, T và H có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và khấu trừ 5% thu nhập hàng tháng của các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ sung quỹ Nhà nước cũng đủ giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn S không có yêu cầu bồi thường đối với số tài sản ở quán bị hư hỏng; các bị cáo H, V và T không yêu cầu bị cáo C phỉa bồi thường gì về dân sự nên không đặt ra giải quyết.

Đối với hành vi gây thương tích của bị cáo C đối với các bị cáo H, V và T. Các bị cáo H, V và T không yêu cầu khởi tố đối với C. Công an thành phố Chí Linh đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với C là phù hợp nên không xem xét trong vụ án này.

Về xử lý vật chứng: Đối 01 chiếc ghế nhựa màu xanh đã bị vỡ thành nhiều mảnh là tài sản của gia đình anh S; 02 chiếc dép nhựa màu trắng; 02 chiếc giầy vải màu xám, 01 chiếc dép nhựa kiểu tông quai màu đỏ, đen; 01 con dao bằng kim loại, loại dao gấp là tài sản của các bị cáo và công cụ sử dụng vào việc phạm tội. Anh S và các bị cáo không đề nghị được nhận lại nên cần tịch thu cho tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức C, Nguyễn Văn H, Mạc Văn V và Mạc Văn T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 05/10/2020.

Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 36, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 11 (mười một) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày Uỷ ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Xử phạt bị cáo Mạc Văn V 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày Uỷ ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Xử phạt bị cáo Mạc Văn T 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày Uỷ ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Khấu trừ 5% thu nhập hàng tháng của các bị cáo Nguyễn Văn H, Mạc Văn V và Mạc Văn T trong thời gian cải tạo không giam giữ sung quỹ Nhà nước. Giao các bị cáo Nguyễn Văn H, Mạc Văn V và Mạc Văn T cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh hải Dương trong việc giám sát, giáo dục.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu huỷ 01 chiếc ghế nhựa màu xanh đã bị vỡ thành nhiều mảnh; 02 chiếc dép nhựa màu trắng; 02 chiếc giầy vải màu xám, 01 chiếc dép nhựa kiểu tông quai màu đỏ, đen; 01 con dao bằng kim loại, loại dao gấp, khi gấp lại dài 12,5cm, khi mở lưỡi dao dài 22,5cm, lưỡi nhọn một cạnh sắc, phần tay cầm ốp gỗ màu nâu.

(Vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/3/2021 giữa C an thành phố Chí Linh và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Đức C, Nguyễn Văn H, Mạc Văn V và Mạc Văn T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ