- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng văn H phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phùng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự Tuyên bố; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 44/2021/HS-ST Ngày: 12/11/2021 |
HUYỆN MÙ CANG CHẢI Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: ông Tòng Văn Quân Các Hội thẩm nhân dân: 1. ông Lương Văn Sanh 2. ông Nguyễn Đức Hải - Thư ký phiên tòa: ông Lý A Hờ- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải tham gia phiên tòa: ông Nông Văn Phong- Kiểm sát viên Ngày 12 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Lao Chải, Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo: Phùng Văn H, sinh ngày 22 tháng 4 năm 1994 tại thị xã N, tỉnh Yên Bái; cư trú tại: Bản L, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn Ch (Đã chết) và bà Lò Thị P, sinh năm 1965; vợ con: chưa có; tiền sự: không; tiền án: 04 tiền án, tại Bản án số 05/2016/HSST ngày 22/3/2016 của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 44/2017/HSST ngày 17/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 25/2017/HSST ngày 18/8/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; Bản án số 54/2017/HSST ngày 24/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Ngày 05/02/2021 chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương; Nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy, lười lao động, sống lang thang, thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/7/2021. Có mặt. Bị hại: anh Hảng A S; nghề nghiệp: Trồng trọt; trú tại: bản H (hạt 7), xã M, huyện M, tỉnh Yên Bái. Có mặt. Người làm chứng: anh Đặng Văn S, sinh năm 1983; nghề nghiệp: Lao động tự do; trú tại: Tổ 4, thị trấn M, huyện M, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 10/7/2021, Phùng Văn H, sinh năm 1994, điều khiển xe mô tô (Học khai là xe trộm cắp mà có, nhưng không biết của ai, ở đâu) đi từ thị xã Nghĩa Lộ đến nhà Hảng A S, sinh năm 1983, làm quen và ở lại nhà S. Phùng Văn H mang chiếc xe mô tô bán cho Đặng Văn S, sinh năm 1983, được 800.000 đồng, H dùng tiền mua ma túy sử dụng và chi tiêu hết. Ngày 11/7/2021, H nói với S là sẽ bắt xe đêm sang huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tìm việc làm, mọi người trong nhà đều đi ngủ, con trai lớn của S (Hảng A H) ngủ một mình trong buồng, để điện thoại ở đầu giường, H ngủ cùng S ở giường khách, khoảng hơn 02 giờ sáng ngày 12/07/2021, H thức dậy lấy đèn pin soi, tìm điện thoại của S để xem giờ nhưng không thấy. Ở nhà S, H thấy H thường sử dụng điện thoại màn hình cảm ứng, nên H đi vào phòng ngủ của H thấy điện thoại để cạnh gối, H cầm điện thoại xem lúc này là 02 giờ 45 phút, thấy H vẫn ngủ say, H nảy sinh ý định trộm cắp, H đã cho điện thoại vào túi quần, rồi quay ra lấy hành lý đi ra khỏi nhà S, Phùng Văn H bắt xe khách sang Than Uyên, trên đường đi đến khu chợ xã Khao Mang, nhà xe kiểm tra giấy tờ tùy thân nhưng H không có giấy chứng minh nhân dân nên nhà xe không cho đi, H xuống xe thấy quán ăn có đông người đang xem bóng đá, H vào đó ngồi. Sau khi H đi một khoảng thời gian, Sình phát hiện bị mất điện thoại, Sình cùng với anh Giàng A Ch đi tìm, phát hiện thấy H đang ngồi ở quán chợ Khao Mang, Học thừa nhận đã trộm cắp và trả chiếc điện thoại cho S. Rồi S và Ch đưa Học lên Công an xã Khao Mang, huyện Mù Cang Chải trình báo việc mất trộm điện thoại vào hồi 04 giờ 30 phút rạng sáng ngày 12/07/2021. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 11/KL-ĐG ngày 22/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái kết luận: Giá trị thực tế của chiếc điện thoại màn hình cảm ứng màu đen, hiệu "VSMART", loại "JOY 4" số IMEI 1:351088463591735, số IMEI 2: 351088463591743 là 2.500.000,đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng). Tại Cáo trạng số 35/CT-VKS-MCC ngày 28/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải truy tố bị cáo Phùng Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo Phùng Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố. Bị cáo H thừa nhận đã trộm cắp tài sản (điện thoại) của Hảng A S, mục đích để bán lấy tiền tiêu. Tại phiên tòa, bị hại Hảng A S đã khai nhận đã bị Phùng Văn H trộm cắp tài sản (điện thoại). Tuy nhiên tài sản được thu hồi, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đã giữ nguyên toàn bộ quyết định truy tố, đề nghị tuyên bố bị cáo Phùng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; các điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phùng Văn H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập. Đối với Đặng Văn S (người mua xe máy) do đang thông báo truy tìm chủ sở hữu chiếc xe nói trên, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Mù Cang Chải tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau. Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu đen, hiệu "VSMART", loại "JOY 4" số IMEI 1:351088463591735, số IMEI 2: 351088463591743, tình trạng đã qua sử dụng. 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, kiểu loại Wave alpha, màu xanh, đen, số khung RLHHC09013Y244498, số máy HC09E - 0244546, không có biển kiểm soát, đã qua sử dụng. H khai là xe trộm cắp mà có, nhưng không biết của ai, ở đâu. Cơ quan CSĐT Công an huyện Mù Cang Chải đã ra thông báo truy tìm chủ sở hữu, nhưng đến nay chưa nhận được sự phúc đáp của cơ quan có liên quan. Do đó cần tiếp tục tạm giữ tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Mù Cang Chải để điều tra, làm rõ, xử lý sau. Bị cáo Phùng Văn H không có ý kiến tranh luận gì. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Mù Cang Chải, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Lời khai nhận của bị cáo Phùng Văn H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng. Từ đó đã đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Phùng Văn H đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu để thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản. Cụ thể: đêm 11 rạng ngày 12/7/2021, Phùng Văn H đã trộm cắp chiếc điện thoại màn hình cảm ứng màu đen, hiệu "VSMART", loại "JOY 4" của Hảng A S, trị giá 2.500.000 đồng; Bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. [3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bản thân bị cáo không chịu làm ăn lương thiện, lợi dụng sơ hở của người khác để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương, nên phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật. [4] Về tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, đã kịp thời thu hồi trả lại cho chủ sở hữu; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Được Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt. [5] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời cũng đảm bảo răn đe và phòng ngừa chung. [6] Các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Quá trình điều tra H khai là xe trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu HONDA, kiểu loại Wave alpha, màu xanh, đen, không có biển kiểm soát. Cơ quan CSĐT Công an huyện Mù Cang Chải đã ra thông báo truy tìm chủ sở hữu, nhưng đến nay chưa nhận được sự phúc đáp của cơ quan có liên quan. Do đó cần tiếp tục tạm giữ tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Mù Cang Chải để điều tra, làm rõ, xử lý sau. Quá trình điều tra, xác minh xác định Phùng Văn H có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” do bị cáo đã bị khởi tố nên không đề cập xử lý. Đối với Hảng A S là người bị hại và cũng là người bị cáo H khai đã giúp bị cáo mua ma túy về sử dụng. Quá trình điều tra Sình không thừa nhận bản thân đã mua ma túy hộ bị cáo, số ma túy H đã sử dụng hết, hơn nữa cũng chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo. Nên không có đủ căn cứ để điều tra, làm rõ, xử lý đối với Hảng A S. Đối với Đặng Văn S người mua xe mô tô của Phùng Văn H, S không biết xe của Học trộm cắp mà có, nên Đặng Văn S không phải chịu trách nhiệm hình sự. [7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập. [8] Về xử lý vật chứng: - 01 điện thoại màn hình cảm ứng màu đen, hiệu "VSMART", loại "JOY 4" số IMEI 1:351088463591735, số IMEI 2: 351088463591743, tình trạng đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của Hảng A Sình cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định của pháp luật. - 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, kiểu loại Wave alpha, màu xanh, đen, số khung RLHHC09013Y244498, số máy HC09E - 0244546, không có biển kiểm soát, đã qua sử dụng. H khai là xe trộm cắp mà có, nhưng không biết của ai, ở đâu. Cơ quan CSĐT Công an huyện Mù Cang Chải đã ra thông báo truy tìm chủ sở hữu, nhưng đến nay chưa nhận được sự phúc đáp của cơ quan có liên quan. Do đó cần tiếp tục tạm giữ tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Mù Cang Chải để điều tra, làm rõ, xử lý sau. [9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. [10] Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 173 của Bộ luật Hình sự Tuyên bố bị cáo Phùng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 1. Về hình phạt: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; các điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Phùng Văn H 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 13/7/2021. 2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho bị hại Hảng A S 01(một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu đen, hiệu "VSMART", loại "JOY 4" số IMEI 1:351088463591735, số IMEI 2: 351088463591743, tình trạng đã qua sử dụng. 3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, Bị cáo Phùng Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. 4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND tỉnh Yên Bái; - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái; - VKSND huyện MCC; - Công an huyện MCC (2); - Chi cục THADS huyện MCC; - THA hình sự; Tòng Văn Quân - Bị cáo; bị hại; - Lưu: TA, tiểu HS; HS (2). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) |