vanban.org

Bản án 44/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 24/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Tr phạm tội “Hiếp dâm”.

* Áp dụng khoản 1 Điều 141; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65/BLHS. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Tr 36 (Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng, thời hạn tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng văn Trường - phạm tội hiếp dâm (điều 141 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Tr phạm tội “Hiếp dâm”.
  • Căn cứ chính? Điều 584 Bộ luật Dân sự; Điều 585 Bộ luật Dân sự; Điều 586 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA BỂ
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2021/HS-ST
Ngày 24 tháng 11 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Thế Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Thăng Bắc

2. Ông Lưu Xuân Thảo.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Thể - Thẩm tra viên chính Toà án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2021/TLST-HS, ngày 08 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2021 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 06/2021/HSST-QQĐ ngày 29 thánh 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Hoàng Văn Tr (tên gọi khác: Không), sinh ngày 11 tháng 6 năm 1985 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKNK thường trú và chỗ ở hiện nay tại thôn D, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Xuân T và con bà Lộc Thị O; Vợ: Triệu Thị H; Con: Có 01 con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện nay đang tại ngoại tại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Chị Lương Thị Hoài T, sinh ngày 08/9/1984. Nơi cư trú: T 7, phường G, thành phố Th, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bàn Thị L - sinh năm 1960. Trú tại: Thôn D, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.

* Người làm chứng: Bà Lộc Thị O - sinh năm 1962. Trú tại: Thôn D, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 04/01/2021, Hoàng Văn Tr gọi điện thoại cho Lương Thị Hoài T SN 1984, trú tại T 7, phường G, thành phố Th, tỉnh Thái Nguyên (ngày 04/01/2021 T có mặt tại thôn D, xã Th, huyện B), mục đích rủ T qua lán chăn nuôi của Tr tại khu vực C thuộc thôn D, xã Th, huyện B để đánh bạc. T đồng ý rồi đi xe máy sang nhà Tr, sau đó Tr chở T sang đến khu vực bãi đất trống gần lán chăn nuôi thì dừng xe, Tr rút chìa khóa và đi vào lán, do không thấy T vào nên Tr quay ra gọi nhưng T không vào vì không thấy ai trong lán, khi Tr quay ra thì T có bảo Tr đưa chìa khóa xe máy để T đi về nhưng Tr không đưa, thấy trời tối, vắng người nên Tr đã nảy sinh ý định quan hệ tình dục với T. Khi đó thấy đèn flash của máy điện thoại T đang cầm còn sáng nên Tr giật chiếc điện với mục đích tắt đèn đi nhưng T không cho nên hai bên đã giằng co sau đó điện thoại rơi xuống đất, Tr cúi xuống nhặt đút vào túi quần đang mặc rồi lao vào ôm ngang bụng T và vật ngã ngửa ra đất rồi dùng hai tay cầm vào cạp quần của T và ngồi lên bụng T tiếp tục dùng tay kéo chiếc áo khoác T đang mặc ra khỏi người, lúc này Tr bị T dùng tay cào cấu vào mặt và người, Tr dùng tay sờ đùi, âm hộ của T, một tay đè vào cổ một tay cởi áo khoác, áo len của T. Tr tìm cách đút dương vật vào trong âm đạo T, nhưng bị T chống cự, không đồng ý. Sau khi vật lộn với T khoảng hơn một giờ đồng hồ, lúc này T đã mệt nên Tr kéo dạng chân T ra rồi thực hiện hành vi giao cấu được khoảng hai phút thì Tr xuất tinh lên bụng của T, Tr đứng dậy mặc quần áo còn T lấy áo khoác của Tr để lau bộ phận sinh dục và bụng, sau đó mặc quần áo lấy điện thoại, lấy xe máy rồi đi về nhà còn Tr đi vào lán ngủ. Khi về đến nhà T cầm một con dao đi xuống nhà Tr, T dùng dao chém vào cửa bếp mục đích để mở cửa và phát hiện cửa không khóa nên đi vào dùng dao đập phá một số đồ đạc của Tr, sau đó bà Lộc Thị O là mẹ đẻ của Tr đến căn ngăn T.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về tình dục số: 23/TD ngày 13/01/2021 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bắc Kạn kết luận:

- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: tỷ lệ phần trăm TTCT là: 0% (không phần trăm);

- Bộ phận sinh dục không có dấu vết tổn thương;

- Phát hiện thấy dấu vết tinh dịch trên chiếc áo của Hoàng Văn Tr, phân tích được ADN nhiễm sắc thể Y.

Tại Kết luận giám định pháp y về ADN số: 35/ADN ngày 05/02/2021 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Bắc Kạn kết luận:

- Dấu vết tinh dịch trên áo của Hoàng Văn Tr có ADN nhiễm sắc thể Y, trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể Y từ mẫu niêm mạc miệng của Hoàng Văn Tr. Với độ tin cậy: 100%.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 42/KL-HĐĐG ngày 13/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ba Bể kết luận:

- Hai cốc uống nước bằng thủy tinh bị vỡ, loại cốc uống nước, đường kính miệng khoảng 07cm, cao khoảng 08cm có giá 15.000 đ(Mười lăm nghìn đồng).

- Một nồi cơm điện nhãn hiệu HAPPY MATE màu tím, trắng bị nứt, vỡ móp méo có giá 130.000 đ (Một trăm ba mươi nghìn đồng).

- Một ấm sứ pha chè bị vỡ có giá 60.000 đ (Sáu mươi nghìn đồng).

- Một tấm kính tủ đựng thức ăn bị nứt, vỡ có giá 250.000 đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng).

- Một kệ ti vi bị chém nứt mặt trên có giá 350.000 đ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng).

- Một khung cửa bếp bằng gỗ nghiến, pa nô bằng gỗ xoan bị nhiều vết chém có giá 450.000 đ (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng).

* Tổng cộng 1.255.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi năm nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKS-BB ngày 04/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo Hoàng Văn Tr về tội “Hiếp dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 141 Bộ luật hình sự.

Điều luật có nội dung như sau:

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Tr phạm tội “Hiếp dâm”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 141; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65/BLHS.

+ Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Tr từ 30 - 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để quản lý, giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 592 Bộ luật Dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và người bị hại thỏa thuận bồi thường số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) về danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm.

- Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Trả lại cho chị Lương Thị Hoài T 01 (một) đôi dép màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9 màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác dài tay mùa đông, màu xanh da trời; 01 (một) quần dài màu nâu, loại quần chun; 01 (một) khăn quàng cổ bằng len ba màu: đen, xám, đỏ mận; 01 (một) áo phông dài tay màu đen; 01 (một) khẩu trang màu xanh; 01 (một) chiếc tất màu xám; 01 (một) áo ngực màu nâu; 01 (một) quần lót nữ màu xanh.

+ Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5 màu nâu vàng, các góc điện thoại đã bị trầy xước, lớp kính cường lực đã bị nứt; 01 (một) ốp điện thoại di động màu đen bên trên có dòng chữ Baseus; 01 (một) đôi giầy vải màu xám, bề mặt có dòng chữ SHOYIN, phần đế màu đỏ; 01 (một) quần dài màu xám, đen, cạp quần gắn logo có dòng chữ BELLEZZA84#LAMOKENEW#; 01 (một) đôi tất màu trắng, có họa tiết hoa văn không rõ hình màu xanh;

+ Tịch thu tiêu hủy các sợi tóc và cỏ khô.

- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá nghạch theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Theo các biên bản lời khai của bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi liên quan, người làm chứng và lời khai của bị cáo tại phiên tòa: Khoảng 21 giờ ngày 04/01/2021, Hoàng Văn Tr gọi điện thoại cho Lương Thị Hoài T mục đích rủ T qua lán chăn nuôi của Tr tại khu vực C thuộc thôn D, xã Th, huyện B để đánh bạc. T đồng ý rồi đi xe máy sang nhà Tr, sau đó Tr chở T sang đến khu vực bãi đất trống gần lán chăn nuôi thì dừng xe, Tr rút chìa khóa và đi vào lán, do không thấy T vào nên Tr quay ra gọi nhưng T không vào vì không thấy ai trong lán, khi Tr quay ra thì T có bảo Tr đưa chìa khóa xe máy để T đi về nhưng Tr không đưa, thấy trời tối, vắng người nên Tr đã nảy sinh ý định quan hệ tình dục với T. Khi đó thấy đèn flash của máy điện thoại T đang cầm còn sáng nên Tr giật chiếc điện với mục đích tắt đèn đi nhưng T không cho nên hai bên đã giằng co sau đó điện thoại rơi xuống đất, Tr cúi xuống nhặt đút vào túi quần đang mặc rồi lao vào ôm ngang bụng T và vật ngã ngửa ra đất rồi dùng hai tay cầm vào cạp quần của T và ngồi lên bụng T tiếp tục dùng tay kéo chiếc áo khoác T đang mặc ra khỏi người, lúc này Tr bị Thu dùng tay cào cấu vào mặt và người, Tr dùng tay sờ đùi, âm hộ của T, một tay đè vào cổ một tay cởi áo khoác, áo len của T. Tr tìm cách đút dương vật vào trong âm đạo T, nhưng bị T chống cự, không đồng ý. Sau khi vật lộn với T khoảng hơn một giờ đồng hồ, lúc này T đã mệt nên Tr kéo dạng chân T ra rồi thực hiện hành vi giao cấu được khoảng hai phút thì Tr xuất tinh lên bụng của T, Tr đứng dậy mặc quần áo còn T lấy áo khoác của Tr để lau bộ phận sinh dục và bụng, sau đó mặc quần áo lấy điện thoại, lấy xe máy rồi đi về nhà còn Tr đi vào lán ngủ.

Như vậy, bị cáo Hoàng Văn Tr đã có hành vi dùng vũ lực để giao cấu trái ý muốn với chị Lương Thị Hoài T, tại bãi đất khu vực C, thuộc thôn D, xã Th, huyện B, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Hiếp dâm” được quy định tại khoản 1 Điều 141 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền danh dự, nhân phẩm, sức khỏe mà pháp luật bảo vệ đối với người phụ nữ, gây mất trật tự trị an ở địa phương, cần xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự, nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình và tỏ rõ sự hối lỗi; Bản thân bị cáo đã tự nguyện nộp một khoản tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B để bồi thường thiệt hại theo biên lai số: 0001004 ngày 01/11/2021 và biên lai số: 0001010 ngày 24/11/2021, cho nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ đó là "Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51/BLHS. Ngoài ra gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn một mình bị cáo nuôi con nhỏ (Đơn có xác nhận của chính quyền địa phương) đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51/BLHS.

Từ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt đối với bị cáo phù hợp với hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương là phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra vụ án, cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện B có thu giữ: 01 (một) đôi dép màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9 màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác dài tay mùa đông, màu xanh da trời; 01 (một) quần dài màu nâu, loại quần chun; 01 (một) khăn quàng cổ bằng len ba màu: đen, xám, đỏ mận; 01 (một) áo phông dài tay màu đen; 01 (một) khẩu trang màu xanh; 01 (một) chiếc tất màu xám; 01 (một) áo ngực màu nâu; 01 (một) quần lót nữ màu xanh; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5 màu nâu vàng, các góc điện thoại đã bị trầy xước, lớp kính cường lực đã bị nứt; 01 (một) ốp điện thoại di động màu đen bên trên có dòng chữ Baseus; 01 (một) đôi giầy vải màu xám, bề mặt có dòng chữ SHOYIN, phần đế màu đỏ; 01 (một) quần dài màu xám, đen, cạp quần gắn logo có dòng chữ BELLEZZA84#LAMOKENEW#; 01 (một) đôi tất màu trắng, có họa tiết hoa văn không rõ hình màu xanh; các sợi tóc và cỏ khô.

Tại phiên tòa bị cáo, người bị hại có nhu cầu được lấy lại các tài sản trên, do vậy Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5 màu nâu vàng, các góc điện thoại đã bị trầy xước, lớp kính cường lực đã bị nứt; 01 (một) ốp điện thoại di động màu đen bên trên có dòng chữ Baseus; 01 (một) đôi giầy vải màu xám, bề mặt có dòng chữ SHOYIN, phần đế màu đỏ; 01 (một) quần dài màu xám, đen, cạp quần gắn logo có dòng chữ BELLEZZA84#LAMOKENEW#; 01 (một) đôi tất màu trắng, có họa tiết hoa văn không rõ hình màu xanh; Trả lại cho người bị hại: 01 (một) đôi dép màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9 màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác dài tay mùa đông, màu xanh da trời; 01 (một) quần dài màu nâu, loại quần chun; 01 (một) khăn quàng cổ bằng len ba màu: đen, xám, đỏ mận; 01 (một) áo phông dài tay màu đen; 01 (một) khẩu trang màu xanh; 01 (một) chiếc tất màu xám; 01 (một) áo ngực màu nâu; 01 (một) quần lót nữ màu xanh; Tịch thu tiêu hủy các sợi tóc và cỏ khô không có giá trị.

Đối với số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) bị cáo tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B để bồi thường thiệt hại theo biên lai số: 0001004 ngày 01/11/2021 và biên lai số: 0001010 ngày 24/11/2021 tạm giữ để đảm bảo thi hành án

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án, người bị hại chị Lương Thị Hoài T không yêu cầu bị cáo Hoàng Văn Tr bồi thường, tại phiên tòa chị Lương Thị Hoài T có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm với số tiền là 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng), tại phiên tòa giữa bị cáo và người bị hại đã thỏa thuận thống nhất số tiền bồi thường là 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng), do vậy Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và người bị hại như sau: Bị cáo Hoàng Văn Tr có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm cho chị Lương Thị Hoài T số tiền là 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng).

Việc thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.

Trong vụ án này hành vi Lương Thị Hoài T đập phá tài sản của Hoàng Văn Tr, với giá trị tài sản thiệt hại là 1.255.000 đồng, chưa đến mức cấu thành của tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra đã chuyển cho Công an huyện B ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với Lương Thị Hoài T là đúng quy định của pháp luật.

Trong vụ án này bà Bàn Thị L là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa bà không có ý kiến gì và tài sản của bà là con dao cũng được cơ quan công an trả lại.

Về án phí bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

* Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Tr phạm tội “Hiếp dâm”.

* Áp dụng khoản 1 Điều 141; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65/BLHS.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Tr 36 (Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng, thời hạn tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hoàng Văn Tr cho Ủy ban nhân dân xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn quản lý, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 592 Bộ luật Dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và người bị hại như sau: Bị cáo Hoàng Văn Tr có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm cho chị Lương Thị Hoài T số tiền là 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng).

Việc thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự

* Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS:

+ Tạm giữ số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) bị cáo tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B để bồi thường thiệt hại theo biên lai số: 0001004 ngày 01/11/2021 và biên lai số: 0001010 ngày 24/11/2021 để đảm bảo thi hành án.

+ Trả lại cho chị Lường Thị Hoài T 01 (một) đôi dép màu đen; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9 màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác dài tay mùa đông, màu xanh da trời; 01 (một) quần dài màu nâu, loại quần chun; 01 (một) khăn quàng cổ bằng len ba màu: đen, xám, đỏ mận; 01 (một) áo phông dài tay màu đen; 01 (một) khẩu trang màu xanh; 01 (một) chiếc tất màu xám; 01 (một) áo ngực màu nâu; 01 (một) quần lót nữ màu xanh.

+ Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn Tr 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5 màu nâu vàng, các góc điện thoại đã bị trầy xước, lớp kính cường lực đã bị nứt; 01 (một) ốp điện thoại di động màu đen bên trên có dòng chữ Baseus; 01 (một) đôi giầy vải màu xám, bề mặt có dòng chữ SHOYIN, phần đế màu đỏ; 01 (một) quần dài màu xám, đen, cạp quần gắn logo có dòng chữ BELLEZZA84#LAMOKENEW#; 01 (một) đôi tất màu trắng, có họa tiết hoa văn không rõ hình màu xanh;

+ Tịch thu tiêu hủy các sợi tóc và cỏ khô không có giá trị.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Ba Bể với Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Bể ngày 11/10/2021 ).

- Về án phí: Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 quy định về án phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Văn Tr phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm và 750.000đ án phí Dân sự có giá ngạch.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự."

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi liên quan, vắng mặt người làm chứng. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ