vanban.org

Bản án 44/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn M và chị Trịnh Thị H.

Về con chung: Xử: Giao con chung Nguyễn Gia B, sinh ngày 28/10/2017 cho anh Nguyễn Văn M trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi; Giao con chung Nguyễn Gia P, sinh ngày 07/12/2019 cho chị Trịnh Thị H trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh M, chị H không phải cấp dƣỡng nuôi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn M - Trịnh Thị H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn M và chị Trịnh Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh M và chị H; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 9 - 2021
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kim Giang;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Mai

2. Ông Nguyễn Văn Bạn

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 157/2021/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2021 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 50/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/9/2021 giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1986;

Địa chỉ: Khu dân cƣ K, phƣờng C, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.

2. Bị đơn: Chị Trịnh Thị H, sinh năm 1991;

Nơi ĐKHKTT: Khu dân cƣ K, phƣờng C, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng;

Nơi ở hiện nay: Khu dân cƣ Đ, phƣờng H, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.

- Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Vũ Thị C, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Khu dân cƣ T, phƣờng Đ, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.

- Ngƣời làm chứng:

+ Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1956;

Địa chỉ: Khu dân cƣ K, phƣờng C, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.

+ Ông Trịnh Đình H, sinh năm 1964;

Địa chỉ: Khu dân cƣ Đ, phƣờng H, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.

+ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969;

Địa chỉ: Khu dân cƣ Đ, phƣờng H, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.

Anh M, chị H, bà C, ông H có mặt; bà T, ông M vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 28/4/2021, bản tự khai và ý kiến tại các buổi làm việc với Tòa án, anh Nguyễn Văn M trình bày: Anh và chị H đăng ký kết hôn ngày 02/3/2017 tại Ủy ban nhân dân phƣờng C, thị xã C (nay thành phố C) trên cơ sở tự nguyện và đƣợc hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo phong tục tập quán địa phƣơng. Sau ngày cƣới, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ anh M tại khu dân cƣ K, phƣờng C. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thƣờng. Sau đó, phát sinh mâu thuẫn, do con nhỏ, kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng lại hay bất đồng quan điểm dẫn đến thƣờng hay xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau. Chị H nhiều lần đƣa con về bên ngoại ở. Tháng 3/2020, vợ chồng chính thức sống ly thân. Chị H về nhà bố mẹ đẻ và chặn số điện thoại không liên lạc với anh. Nay anh xác định vợ chồng không thể đoàn tụ đƣợc nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Gia B, sinh ngày 28/10/2017 và Nguyễn Gia P, sinh ngày 07/12/2019. Hiện tại, cháu B đang ở với anh, thỉnh thoảng anh vẫn để chị H đón cháu B về bên ông bà ngoại, còn cháu P đang ở với chị H. Khi ly hôn anh đề nghị giao cháu B cho anh tiếp tục nuôi dƣỡng; giao cháu P cho chị H tiếp tục nuôi dƣỡng. Anh và chị H không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với nhau. Lý do anh đề nghị đƣợc nuôi cháu B, giao chị H nuôi cháu P vì: Hiện tại, anh đang làm sửa chữa điện lạnh, thu nhập trung bình khoảng 6.000.000đ đến 7.000.000đ. Cháu B đang ở cùng với anh và bố mẹ đẻ anh. Bố mẹ anh cũng tạo điều kiện về chỗ ở cũng nhƣ thời gian, công sức để hỗ trợ cùng với anh chăm sóc tốt nhất cho cháu B. Anh không nhất trí ý kiến của chị H đƣợc nuôi 02 con vì: chị H đi làm công ty, vẫn ở nhờ nhà bố mẹ đẻ, không đủ khả năng để chăm sóc tốt cho 02 con. Thời gian vợ chồng nhờ bố mẹ chị H trông con để đi làm thì chi phí học hành của cháu B vẫn là do anh chi trả, ông bà ngoại chỉ đóng tiền hộ. Khi chị H sinh con thì một mình anh đi làm cáng đáng nuôi gia đình, còn chị H không làm gì. Sau khi con lớn thì chị H mới đi làm. Về quan hệ tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 24/7/2021 và ý kiến tại các buổi làm việc, chị H trình bày thống nhất nội dung về thời gian, điều kiện kết hôn nhƣ lời khai của anh M. Chị xác định thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thƣờng. Sau khi chị sinh con thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do kinh tế khó khăn, vợ chồng thƣờng xảy ra bất đồng, cãi vã, xô xát. Chị nhiều lần đƣa con bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở nhƣng sau đó do gia đình hòa giải, động viên nên vợ chồng lại về chung sống cùng nhau. Sau đó, do vợ chồng tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, không nói chuyện, chia sẻ tình cảm đƣợc với nhau, thƣờng xuyên xảy ra cãi vã. Đến khoảng tháng 4/2020, chị tiếp tục bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng chính thức sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, không thể về đoàn tụ đƣợc, do vậy, chị đề nghị đƣợc ly hôn anh M. Về con chung: chị xác định vợ chồng có 02 con chung nhƣ anh M trình bày. Hiện tại cháu P đang do chị trực tiếp nuôi dƣỡng; cháu B do anh M trực tiếp nuôi dƣỡng. Nếu ly hôn chị đề nghị đƣợc nuôi dƣỡng cả 02 con chung và không yêu cầu anh M phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị. Lý do chị đề nghị đƣợc nuôi cả 02 con vì: Các cháu còn nhỏ ở với mẹ sẽ tốt cho các cháu hơn. Hiện tại, chị làm công ty, thu nhập bình quân khoảng 8.000.000đ/tháng. Chị ở với bố mẹ đẻ, nhà cửa rộng rãi, bố mẹ chị cũng tạo điều kiện tốt nhất nếu chị đƣợc nuôi 02 con. Theo chị H, chị hoàn toàn có đủ điều kiện để chăm sóc tốt cho cả 02 con. Chị cho rằng anh M thƣờng hay đánh chị nên nếu giao con cho anh M sẽ ảnh hƣởng tâm lý của các cháu. Thời gian khoảng tháng 3/2021, khi anh M nuôi cháu B, chị có đến và mong muốn đón cháu B về chơi nhƣng gia đình anh M chỉ cho thăm, không cho đón. Anh M còn đánh chị khi chị muốn thăm con, chị đã báo công an phƣờng Chí Minh để giải quyết. Về quan hệ tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ông Trịnh Đình H và bà Nguyễn Thị T là bố mẹ đẻ chị H trình bày xác định: Cuối năm 2017, sau khi chị H sinh con thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thƣờng hay xảy ra cãi vã, xô xát. Chị H nhiều lần bế con về nhà ông bà ở. Sau đó, vợ chồng lại về đoàn tụ. Từ tháng 4/2020, chị H chuyển về ở hẳn tại nhà ông bà. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Việc anh M, chị H chung sống với nhau nhƣ thế nào thì ông, bà không rõ. Nhƣng nhiều lần chị H gọi điện nói với ông bà về việc anh M gằn hắt, đánh đuổi chị H. Trong cuộc sống, anh M cũng thƣờng có lời lẽ không đúng mực với gia đình ông bà. Nay anh M xin ly hôn chị H, quan điểm của ông bà là việc ly hôn do vợ chồng chị H, anh M tự quyết định. Về con chung: Quan điểm của ông bà là nên giao cả 02 con Nguyễn Gia B và Nguyễn Gia P cho chị H nuôi vì các cháu còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ. Theo ông bà nên để 02 cháu cho một ngƣời chăm sóc để anh em đƣợc lớn lên cùng nhau có sự gắn bó với nhau. Ông bà sẽ tạo điều kiện tốt nhất về chỗ ăn, ở cũng nhƣ phụ giúp chị H chăm sóc tốt cho các cháu. Theo ông bà không nên giao con cho anh M nuôi vì anh M không có việc làm ổn định, không có kỹ năng chăm con nên việc nuôi con sẽ không đảm bảo.

- Ông Nguyễn Văn M là bố đẻ anh M trình bày xác định: Quá trình chung sống chị H và anh M vui vẻ không có vấn đề gì. Chỉ khoảng tháng 4/2020 thì vợ chồng có mâu thuẫn trong việc chăm sóc cho con. Chị H có chửi anh M. Khi ông lên thì chị H có nói là bị anh M tát 1 cái. Hôm sau chị H đƣa con về ngoại ở. Ông bà nhiều lần vào chơi, động viên chị H về đoàn tụ với anh M. Đầu năm 2021, chị H mới chịu quay về nhƣng vợ chồng không nói chuyện với nhau. Đƣợc khoảng 15 ngày thì chị H lại bỏ về về bên ngoại ở. Nay ông thấy vợ chồng không thể đoàn tụ đƣợc nên quan điểm của ông là đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H và anh M ly hôn. Về con chung: Quan điểm của ông nên giao cho anh M, chị H mỗi ngƣời nuôi 01 con chung. Anh M đang nuôi cháu B nên theo ông nên giao cháu B cho anh M đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng và giao cháu P cho chị H tiếp tục nuôi dƣỡng. Ông và gia đình sẽ tạo mọi điều kiện về chỗ ở cũng nhƣ các điều kiện khác để anh M nuôi con đƣợc tốt nhất. Hiện tôi đang nghỉ hƣu, ở nhà, nhiều thời gian rảnh rỗi, gia đình ông sẽ hỗ trợ anh M trong việc trông nom chăm sóc cháu B khi anh M đi làm. Theo ông, chị H đi làm từ sáng đến tối muộn mới về nhà; ông bà ngoại cũng không đủ điều kiện để hỗ trợ chị H nuôi cả hai cháu đƣợc. Do vậy, theo ông nên giao mỗi ngƣời nuôi 01 con mới đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho các cháu. Thời điểm khoảng tháng 3/2021, khi chị H đến đón con, đã có lời nói không đúng mực nên gia đình ông mới không cho chị H đón con. Còn hiện tại, gia đình ông vẫn để chị H thỉnh thoảng đón con về ông, bà ngoại chơi.

- Tại biên bản xác minh ngày 13/8/2021, trƣởng khu dân cƣ K, phƣờng C xác định: Quá trình mâu thuẫn giữa anh M và chị H địa phƣơng không nắm đƣợc. Chỉ xác định đƣợc khoảng cuối năm 2020, đầu năm 2021, chị H về nhà bố mẹ đẻ ở tại phƣờng H và không ở cùng với anh M.

- Tại biên bản xác minh ngày 10/9/2021, Công an phƣờng C cung cấp: Khoảng tháng 3/2021, chị H có đi cùng một ngƣời đàn ông đến trụ sở Công an phƣờng C trình báo sự việc mâu thuẫn của vợ chồng về việc chị H đến thăm con. Công an phƣờng đã hƣớng dẫn chị H về trình báo tại tổ hòa giải của khu dân cƣ và mời chị H về. Sau đó, không thấy chị H đến trình báo nữa.

- Quá trình giải quyết vụ án, ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là bà Vũ Thị C có cung cấp 01 biên bản xác minh giữa bà C với bà Nguyễn Thị Ngần xác định: Năm học 2020 - 2021, thời gian cháu B học tại trƣờng mầm non H thì chị H và ông bà ngoại là ngƣời trực tiếp đƣa đón cháu B đi học và đóng góp các khoản học phí cho cháu tại trƣờng.

Tại phiên toà:

Anh M, chị H giữ nguyên quan điểm nhƣ trình bày nêu trên.

Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tạo điều kiện giao 02 con cho chị H đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng vì: các con chung còn nhỏ ở với mẹ sẽ tốt hơn ở với bố; hơn nữa, nên để 02 cháu ở cùng với nhau để tạo sự gắn bó tình cảm giữa 02 anh em.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ thời điểm thụ lý vụ án đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng. Về đƣờng lối giải quyết đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; khoản 7 Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Về quan hệ hôn nhân: Xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn M và chị Trịnh Thị H. Về con chung: Xử: Giao con chung Nguyễn Gia B, sinh ngày 28/10/2017 cho anh Nguyễn Văn M trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có thay đổi khác; Giao con chung và Nguyễn Gia P, sinh ngày 07/12/2019 cho chị Trịnh Thị H trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh M, chị H không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với nhau. Anh M, chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở anh M, chị H thực hiện quyền này. Về án phí: Anh Nguyễn Văn M phải nộp 75.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn; chị Trịnh Thị H phải nộp 75.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến của đƣơng sự và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Trịnh Thị H đăng ký hộ khẩu thƣờng trú tại: Khu dân cƣ K, phƣờng C, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng (nơi ở hiện nay: Khu dân cƣ Đ, phƣờng H, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng). Anh Nguyễn Văn M khởi kiện xin ly hôn chị Trịnh Thị H và đề nghị giải quyết về việc nuôi con chung. Do vậy, đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh thụ lý giải quyết vụ án là đúng với thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh M và chị H kết hôn với nhau ngày 02/3/2017 trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng C. Do vậy, hôn nhân của anh M, chị H là hợp pháp. Sau khi kết hôn một thời gian, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do con còn nhỏ, kinh tế khó khăn, vợ chồng thƣờng hay bất đồng trong cuộc sống cũng nhƣ cách ứng xử trong gia đình, dẫn đến vợ chồng thƣờng hay xảy ra cãi vã, xô xát. Từ tháng 3/2020 chị H đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở khu dân cƣ Đ, phƣờng H ở. Sau khi đƣợc hai bên gia đình hòa giải động viên, chị H có quay về ở với anh M nhƣng vợ chồng không nói chuyện đƣợc với nhau, sau đó, chị H tiếp tục bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở. Vợ chồng sống ly thân và không quan tâm đến nhau từ đầu năm 2021 đến nay. Hội đồng xét xử thấy rằng việc chị Anh M, chị H không thƣơng yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình, cũng không sống chung với nhau, đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc. Trƣớc khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, anh M và chị H đều thống nhất xác định vợ chồng không thể về đoàn tụ và đề nghị tòa án giải quyết cho ly hôn. Do vậy, Hội đồng xét xử cần căn cứ vào khoản 1 Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh M và chị H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Gia B, sinh ngày 28/10/2017 và Nguyễn Gia P, sinh ngày 07/12/2019. Hiện tại, cháu B đang do anh M trực tiếp nuôi dƣỡng, cháu P do chị H trực tiếp nuôi dƣỡng. Chị H có nguyện vọng đề nghị đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng cả 02 con, anh M đề nghị đƣợc nuôi dƣỡng con lớn là Nguyễn Gia B. Xét điều kiện, hoàn cảnh của chị H và anh M thấy rằng: Chị H và anh M hiện tại đều có việc làm, thu nhập và có sự hỗ trợ của gia đình về chỗ ở, có đủ điều kiện để nuôi con. Tuy nhiên, chị H đang làm công nhân công ty, anh Bảo làm thợ sửa chữa điều hòa, thời gian đi làm, việc trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng con đều phụ thuộc vào sự hỗ trợ của ông bà nội, ngoại. Do vậy, việc giao cả 02 con cho một bên nuôi dƣỡng sẽ không đảm bảo điều kiện tốt nhất cho 02 cháu. Hiện tại, cháu B ở với anh M vẫn đƣợc anh M và ông bà nội chăm sóc tốt. Cháu P hiện tại chƣa đủ 36 tháng tuổi và vẫn đang do chị H nuôi dƣỡng từ nhỏ đến nay. Do vậy, cần căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình tiếp tục giao con chung Nguyễn Gia B cho anh M tiếp tục nuôi dƣỡng và giao con chung Nguyễn Gia P cho chị H tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi mới đảm bảo quyền lợi mọi mặt của các con chung. Anh M, chị H đều không yêu cầu giải quyết về cấp dƣỡng nuôi con nên Anh M, chị H không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với nhau. Anh M, chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở anh M, chị H thực hiện quyền này.

Về quan hệ tài sản: Anh M, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết.

Về án phí: Trƣớc khi mở phiên tòa anh M, chị H thuận tình ly hôn nên mỗi bên phải chịu 25% mức án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; khoản 7 Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; khoản 7 Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn M và chị Trịnh Thị H.

2. Về con chung: Xử: Giao con chung Nguyễn Gia B, sinh ngày 28/10/2017 cho anh Nguyễn Văn M trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi; Giao con chung Nguyễn Gia P, sinh ngày 07/12/2019 cho chị Trịnh Thị H trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh M, chị H không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với nhau. Anh M, chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở anh M, chị H thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Văn M phải nộp 75.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, đƣợc đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà anh M đã nộp theo biên lai thu số: AA/2018/0002949 ngày 15/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng. Trả lại anh M 225.000đ.

Chị Trịnh Thị H phải nộp 75.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ