- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2021/HNGĐ-ST Ngày: 15-06-2021 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Xuân Thọ - Thẩm phán. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Bảng và ông Phạm Xuân Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Ngày 15 tháng 06 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 73/2021/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 04 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp việc nuôi con khi ly hôn” theo quyết định hoãn phiên tòa số: 92/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 31 tháng 05 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Thanh T; nơi cư trú: Xóm Thọ Trà, xã Hậu Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An (Có mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thế N; nơi cư trú: Xóm Thọ Trà, xã Hậu Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 03 năm 2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phan Thị Thanh T trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Thế N đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hậu Thành, huyện Yên Thành vào ngày 24 tháng 11 năm 2009. Trước khi đăng ký kết hôn hai bên có tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, không ai, lừa dối, ép buộc. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì xẩy ra mâu thuẫn cho tới nay. Nguyên nhân : Anh Nhân không chu chí làm ăn, không quan tâm đến vợ con gia đình. Thường xuyên chơi lô đề, cờ bạc dẫn đến nợ nần, bị bọn xã hội đen đến uy hiếp tinh thần làm gia đình hoang mang lo sợ. Sự việc xẩy ra Chị và gia đình vận động anh Nhân từ bỏ lô đề, cờ bạc nhưng anh Nhân không bỏ. Anh Nhân bỏ nhà đi sống ly thân từ đầu năm 2021 đến nay. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích của hôn nhân không đạt được, Chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung. Nguyễn Uyễn Nhi, sinh ngày 04 tháng 10 năm 2010. Nguyễn Thế Hải Quân, sinh ngày 29 tháng 04 năm 2016. Hiện nay Chị đang trực tiếp nuôi con chung. Các cháu khỏe mạnh. Nếu ly hôn Chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung và chưa yêu cầu anh Nhân cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến trình bày của các đương sự tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định. [1]Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Thế N đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các tài liệu trong hồ sơ vụ án nhưng anh Nhân không có ý kiến gì. Bị đơn anh Nguyễn Thế N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ phiên hòa giải lần thứ 2 mà vẫn cố tỉnh vắng mặt nên Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được, theo khoản 2 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Thế N đã được tống đạt hợp lệ quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần 2 nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: [2] Về Hôn nhân: Chị Phan Thị Thanh T và anh Nguyễn Thế N được Ủy ban nhân dân xã Hậu Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn số 43/2009 ngày 24 tháng 11 năm 2009, thủ tục, điều kiện kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Nhân thường xuyên chơi lô đề, cờ bạc, không quan tâm đến vợ con. Ủy ban nhân dân xã Hậu Thành đã xác nhận tình trạng hôn nhân và con chung của vợ chồng. Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã vận động thuyết phục chị T về đoàn tụ gia đình nhưng chị T không chấp nhận. Xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị T đã thỏa mãn những căn cứ quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đủ cơ sở chấp nhận cho ly hôn. [3] Về nuôi con: Vợ chồng có 02 con chung. Nguyễn Uyễn Nhi, sinh ngày 04 tháng 10 năm 2010. Nguyễn Thế Hải Quân, sinh ngày 29 tháng 04 năm 2016. Chị T đang trực tiếp nuôi con chung. Chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị T đang trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, cháu Nguyễn Uyễn Nhi có nguyện vọng ở với mẹ, anh Nhân hiện nay không có mặt tại địa phương và cũng không có ý kiến gì về việc nuôi con. Để ổn định cuộc sống và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung nên cần giao chị T tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. [4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Chị T chưa yêu cầu anh Nhân cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. [5] Về chia tài sản chung và nghĩa vụ chung tài sản: Chị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. [6] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Thanh T. 1. Về Hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phan Thị Thanh T và anh Nguyễn Thế N. 2. Về nuôi con chung: Giao con 02 chung là Nguyễn Uyễn Nhi, sinh ngày 04 tháng 10 năm 2010 và Nguyễn Thế Hải Quân, sinh ngày 29 tháng 04 năm 2016 cho chị Phan Thị Thanh T tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên. Anh Nhân có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. 3.Về cấp dưỡng cho con: Chị Phan Thị Thanh T chưa yêu cầu anh Nguyễn Thế N thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nên chưa giải quyết. Chị T, anh Nhân có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, thay đổi người trực tiếp nuôi con trên cơ sở lợi ích của con. 4. Án phí: Chị Phan Thị Thanh T phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ ( Ba trăm nghìn), án đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002898 ngày 02 tháng 04 năm 2021 của Cơ quan thi hành án dân sự huyện Yên Thành. Chị Phan Thị Thanh T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm. 5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Chi cục THADS huyện Yên Thành; - TAND tỉnh Nghệ An; - Cơ quan thực hiện việc đăng kết hôn; -- Lưu hồ sơ vụ án; -- Lưu kết quả; - Đương sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký ) Phan Xuân Thọ |