vanban.org

Bản án 44/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Kim O. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị Kim O và anh Nguyễn Triệu T được ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa Phạm Thị Kim O và Nguyễn Triệu T"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 22-4-2021
V/v “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Năm

2. Ông Nguyễn Văn Tâm

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Ngọc – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Trần Thị Ngọc Tuyền – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 40/2021/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 73/2021/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Phạm Thị Kim O, sinh năm 1976 (Xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp H, xã P, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Nguyễn Triệu T, sinh năm: 1976 (Vắng mặt)

Địa chỉ: số M ấp K, xã B, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Phạm Thị Kim O có đơn xin vắng mặt, tuy nhiên theo đơn xin ly hôn ngày 28/01/2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phạm Thị Kim O có yêu cầu như sau:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh T do quen biết, có tìm hiểu, tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Gò Công Đông. Sau khi cưới, do anh T đi làm ở Sài Gòn đến cuối tuần mới về nhà nên cha mẹ chồng cho chị được ở nhà cha mẹ ruột đến cuối tuần mới về nhà chồng, anh chị sống như vậy được 3,5 năm thì chị cất nhà ở riêng trên đất của cha mẹ chị cho đến nay và cuối tuần thì anh T về nhà riêng của hai anh chị mãi đến nay. Quá trình chung sống đến năm 2019 thì mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, bất đồng quan điểm trong cách nuôi dạy con, hai anh chị sống mỗi người mỗi nơi từ khi cưới cho đến nay, công việc của ai người nấy làm, chị không góp ý đối với công việc của anh được, sinh con và chăm sóc con một mình chị tự lo, anh không hay biết gì về tình hình sức khỏe và đời sống của con hằng ngày như thế nào, tuy nhiên hàng tháng anh có phụ tiền để nuôi con, ngoài ra anh không có quan tâm gì khác cho cuộc sống gia đình của anh chị, cuối tuần anh về nhà cũng không giành thời gian cho vợ con, chỉ lo công việc và ra ngoài vui chơi, nhậu nhẹt với bạn bè, chị góp ý cũng không được. Nay chị nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Tất T, sinh ngày 15/3/2010, hiện đang sống chung với chị, ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 5.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, chị O không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Triệu T vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị O, mặc dù Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án,Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Kim O, cho chị O được ly hôn với anh T. Về con chung: giao con chung tên Nguyễn Tất T, sinh ngày 15/3/2010 cho chị O được tiếp tục nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị O khôn yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Nguyên đơn chị Phạm Thị Kim O có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Triệu T vắng mặt không lý do mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Triệu T tham gia phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) tiến hành xét xử vắng mặt chị Phạm Thị Kim O và anh Nguyễn Triệu T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Kim O và anh Nguyễn Triệu T có tổ chức cưới và chung sống với nhau từ năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bì, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 47 quyển số 01 ngày 28/4/2009 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu ly hôn của chị O, căn cứ vào lời khai của chị, Hội đồng xét xử nhận thấy, cuộc sống hôn nhân của anh chị từ sau khi cưới đã phát sinh những bất đồng, tuy nhiên, chị và anh T vẫn tiếp tục cuộc hôn nhân cho đến năm 2019 thì mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, nguyên nhân là do anh chị bất đồng quan điểm sống thời gian dài, bất đồng quan điểm trong cách nuôi dạy con, tính tình không hợp, ngoài thời gian đi làm thì anh T chỉ lo đi nhậu nhẹt nhưng không quan tâm gì đến vợ con, chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh vẫn không thay đổi, giữa anh chị không có tiếng nói chung nên không thể cùng nhau giải quyết bất đồng. Tòa án đã triệu tập anh T nhiều lần nhưng anh T vẫn không đến Tòa án và không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị O, cho thấy anh T không mong muốn hàn gắn tình cảm với chị, không tha thiết với cuộc hôn nhân này nữa. Từ những tình tiết nêu trên, cho thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị O, cho chị O được ly hôn với anh T là có căn cứ và phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Anh chị chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Tất T, sinh ngày 15/3/2010. Hiện nay con chung đang được chị O trực tiếp chăm sóc. Ly hôn chị O yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời, cháu Tất T cũng có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Nhằm tránh sự xáo trộn trong cuộc sống của cháu nên cần giao cháu Tất T cho chị O được tiếp tục nuôi dưỡng là có cơ sở được chấp nhận.

tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Phạm Thị Kim O có yêu cầu ly hôn nên chị phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 228, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Kim O.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị Kim O và anh Nguyễn Triệu T được ly hôn.

2. Về con chung: giao con chung tên Nguyễn Tất T, sinh ngày 15/3/2010 cho chị Phạm Thị Kim O được tiếp tục nuôi dưỡng, anh Nguyễn Triệu T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị O không yêu cầu.

Anh Nguyễn Triệu T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị Kim O phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0018463 ngày 03/02/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Như vậy, chị Phạm Thị Kim O đã nộp đủ án phí.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ