vanban.org

Bản án 44/2021/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 22/09/2021 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; Điều 158; Điều 164; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính;

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Y B Êban và bà H’ Đ Byă. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 665895, ngày 12/5/2016 của UBND huyện K cấp cho hộ ông Y B Êban và bà H’ Đ Byă đối với thửa đất số 659, tờ bản đồ số 16; tổng diện tích: 7.660 m2, mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm, v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Ông Y B Eban khởi kiện quyết định hành chính của UBND huyện K"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; Điều 158; Điều 164; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính;
  • Căn cứ chính? Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Điều 158 Luật tố tụng hành chính; Điều 164 Luật tố tụng hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2021/HC-ST
Ngày 22-9-2021
Vv kiện Quyết định hành chính
trong lĩnh vực quản lý đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Quang Tuyên và bà Lê Duyên Hà.

-Thư ký phiên toà: Bà Lại Thị Minh Hiền - Thư ký TAND tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ban - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 43/2021/TLST-HC, ngày 04/5/2021 về việc “Kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2021/QĐXXST-HC, ngày 16/8/2021, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Y B Êban, sinh năm 1976 và bà H’ Đ Byă, sinh năm 1975; cùng địa chỉ: Xã K1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; ông Y B và bà H’ Đ đều có mặt.

- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền số 75/GUQ-UBND ngày 13/5/2021): Ông Y T Êban – C/v: Phó chủ tịch; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Y P Niê và bà H’ L Byă; địa chỉ: Xã K1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.

+ Ngân hàng TMCP Q; địa chỉ: Phường C, quận Đ1, Tp. Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền số 713/UQ - Ngân hàng QAMC, ngày 16/9/2021): Ông Nguyễn Lê Anh K3 – Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh Đắk Lắk; địa chỉ: Đường T1, thành phố T2, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn ông Y B Êban và bà H’ Đ Byă trình bày:

Trước đây chúng tôi được bố mẹ là ông Y H Êban (đã mất năm 2017) và bà H’H1 Byă giao cho quản lý, sử dụng thửa đất số 204, 205, tờ bản đố số 33 (số mới là 657, 658, tờ bản đồ số 6). 02 thửa đất chúng tôi đang quản lý, sử dụng có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất của ông Y P Niê; phía Tây giáp đất ông Y P Niê; phía Nam giáp đường nội đồng; phía Bắc giáp ruộng của ông Y P1 Mlô.

Hai thửa này đã được UBND huyện K cấp Giấy CNQSD đất số Đ 551394, ngày 24/11/2004 cho ông Y H Êban và bà H’H1 Byă theo Quyết định số 484/QĐ-UB ngày 08/4/2004 của UBND huyện K. Tuy nhiên, gia đình tôi không nhận được Giấy CNQSD đất nên chúng tôi không biết và đã đi thực hiện thủ tục kê khai để được cấp Giấy CNQSD đất đối với 02 thửa đất trên. Khi làm thủ tục kê khai chúng tôi được UBND xã K1 hướng dẫn kê khai với thửa số 659, tờ bản đồ số 16. Đến ngày 12/5/2016, chúng tôi được UBND huyện K cấp Giấy CNQSD đất số BY 665895 cho hộ ông Y B Êban và bà H’ Đ Byă, địa chỉ thửa đất tại buôn N, xã K1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Tuy nhiên quá trình sử dụng chúng tôi phát hiện thửa đất của chúng tôi đang sử dụng không phải thửa số 659. Thửa đất số 659, tờ bản đồ số 16 là thửa đất do hộ ông Y P và bà H L Byă đang quản lý, sử dụng; chứ không phải là 02 thửa đất mà chúng tôi đang quản lý, sử dụng. Sau đó, do không biết việc cấp Giấy CNQSD đất bị nhầm lẫn nên chúng tôi đã mang đi thế chấp tại Ngân hàng TMCP Q cho khoản vay 240 triệu của mình. Đến nay do chưa thanh toán được hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng vẫn đang quản lý Giấy CNQSD đất của chúng tôi.

Do đó, nay chúng tôi khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Giấy CNQSD đất số BY 665895, ngày 12/5/2016 của UBND huyện K, đối với thửa đất số 659, tờ bản đồ số 16 cho hộ chúng tôi, để để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên.

* Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện là ông Y T Êban trình bày:

- Về diện tích, vị trí, hiện trạng, giấy tờ có liên quan và quá trình sử dụng của thửa đất số 659, tờ bản đồ số 16:

Qua kiểm tra hồ sơ địa chính cho thấy, thửa đất số: 203 (cũ), 659 (mới), tờ bản đồ số: 33 (cũ), 16 (mới), tổng diện tích: 7.660 m2, mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm, vị trí thửa đất tại: Buôn K2, xã K1, thửa đất nêu trên đã được cấp cho hộ ông Y B Êban (vợ là bà H’ Đ Byă), địa chỉ thường trú tại xã K1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 665895 cấp ngày 12/5/2016 theo Quyết định số 933/QĐ-UBND, ngày 12/5/2016 của UBND huyện K.

Trong quá trình lập hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Y B Êban, UBND xã K1 không nhận được bất kỳ đơn thư khiếu nại, tố cáo, tranh chấp liên quan đến thửa đất đề nghị cấp. Về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Y B Êban đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Theo trình bày của ông Y B Êban (vợ là bà H’ Đ Byă) thì diện tích đất nêu trên ông Y P Niê và bà H’ L Byă, địa chỉ thường trú tại: Buôn N A, xã K1 đã khai hoang, canh tác, sử dụng từ khoảng năm 1990 cho đến nay. Diện tích đất nêu trên ông Y B Êban (vợ là bà H’ Đ Byă) không canh tác, sử dụng từ trước cho đến nay.

Ý kiến của UBND huyện K đối với yêu cầu tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 665895 cấp ngày 12/5/2016 đã cấp cho ông Y B Niê: Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 665895 cấp ngày 12/5/2016 cho hộ ông Y B Êban và bà H’ Đ Byă là không đúng đối tượng, không đúng chủ sử dụng đất. Tuy nhiên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất nêu trên ông Y B Êban, bà H’ Đ Byă hiện tại đang thế chấp vay vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (ngân hàng Q). Nay ông Y B Êban và bà H’ Đ Byă khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết tuyên hủy Giấy CNQSD đất số BY 665895, ngày 12/5/2016 của UBND huyện K thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

* Tại biên bản lấy lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Y P Niê và bà H’ L Byă trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 659, tờ bản đồ số 16 cũ (là thửa số 203, tờ bản đồ số 33 mới) là do vợ chồng tôi khai hoang từ năm 1988, 1989 đến năm 1990. Sau khi khai hoang xong, vợ chồng tôi trồng cây cà phê và sử dụng ổn định từ đó đến nay, không có tranh chấp với ai. Vợ chồng tôi khai hoang khi các con của chúng tôi còn nhỏ, không có đóng góp gì. Hiện nay, đất vẫn do vợ chồng tôi trực tiếp quản lý, sử dụng; còn các con của chúng tôi đã đã có gia đình và đi làm ăn xa. Đối với thửa đất này chúng tôi chưa làm thủ tục cấp Giấy CNQSD đất cho thửa đất trên. Nhưng chúng tôi được biết UBND huyện K đã cấp Giấy CNQSD đất số BY 665895, ngày 12/5/2016 cho hộ ông Y B Êban (địa chỉ: Buôn N, xã K1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk) đối với thửa đất trên. Việc cấp đất của UBND huyện K là không đúng chủ sử dụng đất, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chúng tôi. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của ông Y B và bà H’ Đ thì vợ chồng tôi đồng ý. Đề nghị Tòa án hủy Giấy CNQSD đất số BY 665895 ngày 12/5/2016 của UBND huyện K cấp cho ông Y B Êban và bà H’ Đ Byă.

* Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP Q là ông Nguyễn Lê Anh K3 trình bày:

Ngày 23/7/2018, ông Y B Êban và bà H’ Đ Byă đã ký kết với Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh Đắk Lắk (gọi tắt ngân hàng Q) Hợp đồng cho vay số 761005.18.340.4124027.TD với số tiền vay là 240.000.000 đồng; lãi suất 10,4%/năm; hạn trả nợ 25/7/2028. Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông Y B, bà H’ Đ đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 761016.18.340.4124027.BĐ ngày 23/7/2018 đối với các tài sản sau:

Tài sản 1: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 659, tờ bản đồ số 16; diện tích 7600,6m2; địa chỉ: Buôn K2, xã K1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy CNQSD đất số BY 665895, do UBND huyện K, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 12/05/2016 cho hộ ông Y B Êban và bà H’ Đ Byă.

Tài sản 2: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất số 155, tờ bản đồ số 23; diện tích 2627,9m2; địa chỉ: Buôn N B, xã K1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy CNQSD đất số BQ 911669, do UBND huyện K, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 12/6/2014 cho hộ ông Y B Êban và bà H’ Đ Byă.

Quá trình xác lập các hợp đồng trên được Ngân hàng thực hiện theo đúng quy định về quy chế cho vay khách hàng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Các tài sản được ngân hàng thẩm định và đăng ký giao dịch bảo đảm đúng theo quy định pháp luật. Trong quá trình đó, ngân hàng Q không hề nhận được thắc mắc hay đơn thư khiếu nại gì về việc nhận thế chấp các tài sản đảm bảo trên. Quá trình thực hiện hợp đồng, do ông Y B, bà H’ Đ vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngân hàng Q đã khởi kiện ông Y B, bà H’ Đ trước Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Quá trình giải quyết vụ án tại TAND huyện K thì ông Y B, bà H’ Đ có đơn khởi kiện TAND tỉnh Đắk Lắk với yêu cầu hủy Giấy CNQSD đất số BY 665895, ngày 12/5/2016 hiện đang thế chấp tại ngân hàng Q.

Quan điểm của ngân hàng Q về yêu cầu khởi kiện tuyên hủy Giấy CNQSD đất đang thế chấp tại ngân hàng Q: Như đã trình bày ở trên, ngân hàng Q xác lập giao dịch cho vay và nhận tài sản đảm bảo của ông Y B, bà H’ Đ đúng theo quy định pháp luật về cho vay. Hợp đồng thế chấp được các cơ quan có thẩm quyên chứng nhận và có hiệu lực pháp luật. Trong quá trình từ lúc thẩm định cho vay đến khi phát sinh tranh chấp ngân hàng Q không hề nhận được đơn thư khiếu nại nào của các bên liên quan đến tài sản theo Giấy CNQSD đất số BY 665895, ngày 12/5/2016 của UBND huyện K, nên việc Giấy CNQSD số BY 665895 bị cấp sai đối tượng không phải lỗi của ngân hàng. Vì vậy, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Y B Êban và bà H’ Đ Byă.

* Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 25/8/2020 và ngày 06/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện K ghi nhận: “Thửa đất số 659, tờ bản đồ số 16, tại Buôn K2, xã K1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, do vợ chồng ông Y P Niê và bà H’ L Byă quản lý, sử dụng và chưa được cấp Giấy CNQSD đất. Còn hộ ông Y B Êban từ trước đến nay không sử dụng thửa đất này. Ý kiến của cán bộ địa chính xã K1, Phòng TN&MT huyện K, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K: Qua đối chiếu trên thực trạng với trích lục thửa đất xác định thửa số 659, tờ bản đồ số 16 cấp nhầm Giấy CNQSD đất cho hộ ông Y B trong khi hộ ông Y P đang sử dụng và chưa được cấp Giấy CNQSD đất. Còn diện tích đất ông Y B và Ngân hàng khẳng định thế chấp cho Ngân hàng là thửa số 204, 205 (tờ bản đồ 33 cũ) đã được cấp Giấy CNQSD đất cho hộ ông Y H Êban (là bố mẹ vợ của ông Y B).”

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của Luật tố tụng hành chính trong quá trình giải quyết vụ án.

- Về nội dung: Theo xác minh trên thực tế thì thửa đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 665895 cấp ngày 12/5/2016 đã cấp cho ông Y B Êban và bà H’ Đ Byă do ông Y P Niê và bà H’ L Byă khai hoang và sử dụng ổn định từ đó đến nay. Bên cạnh đó, UBND huyện K cũng xác nhận rằng việc cấp Giấy CNQSD đất số BY 665895 cho hộ ông Y B và bà H’ Đ là không đúng đối tượng, không đúng chủ sử dụng đất. Do đó, có căn cứ hủy Giấy CNQSD đất số BY 665895 cấp ngày 12/5/2016 đã cấp cho ông Y B Êban và bà H’ Đ Byă, đề nghị Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện của ông Y B Êban và bà H’ Đ Byă.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, ý kiến của các đương sự và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Ông Y B Êban và bà H’ Đ Byă khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Giấy CNQSD đất số BY 665895, ngày 12/5/2016 của UBND huyện K, là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính.

- Về thời hiệu khởi kiện: Hộ ông Y B được cấp Giấy CNQSD đất đối với thửa đất số 659 ngày 12/5/2016; tuy nhiên quá trình sử dụng và mang Giấy CNQSD đất đi thế chấp ngân hàng thì ông bà không biết việc cấp nhầm số thửa. Đến năm 2019 Ngân hàng khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng thì ông bà mới biết việc cấp nhầm. Do đó, ông Y B, bà H’ Đ khởi kiện trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính.

- Về sự có mặt của đương sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Y P Niê, bà H’ L Byă vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên là phù hợp với quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 157 Luật tố tụng hành chính.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của ông Y B, bà H’ Đ yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Giấy CNQSD đất số BY 665895, ngày 12/5/2016 của UBND huyện K, đối với thửa đất số 659, tờ bản đồ số 16.

Về nguồn gốc và vị trí thửa đất:

Theo trình bày của các bên và theo xác minh thực tế: Thửa đất số 659, tờ bản đồ số 6 tại địa chỉ Buôn K2, xã K1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk có nguồn gốc do vợ chồng ông Y P Niê và bà H L Byă khai hoang từ năm 1988. Thửa đất có vị trí tứ cận như sau:

Phía Đông giáp đất của ông Y B Niê (thửa số 204, tờ bản đồ số 33 cũ);

Phía Tây giáp đất ông Y N Byă;

Phía Nam giáp đất đường nội đồng;

Phía Bắc giáp ruộng của ông Y N Niê.

Thửa đất số 659 có diện tích khoảng 7.600,6m2, từ trước đến nay vẫn đang do vợ chồng ông Y P, bà H’ L quản lý, sử dụng và không tranh chấp với ai.

Đối với hộ ông Y B, bà H’ Đ đang quản lý, sử dụng các thửa đất sau: Thửa đất số 204, 205, thuộc tờ bản đồ số 33 cũ (số mới là 657, 658, tờ bản đồ số 6); tại xã K1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk có vị trí như sau:

Thửa đất số 204 có tứ cận: Phía Đông giáp thửa số 205 của hộ ông Y B; phía Tây giáp thửa số 659 ông Y P đang sử dụng; phía Nam giáp đường nội đồng; phía Bắc giáp suối.

Thửa đất số 205 có tứ cận: Phía Đông giáp đất của ông Y P Niê; phía Tây giáp thửa số 204 của hộ ông Y B; phía Nam giáp đường nội đồng; phía Bắc giáp suối.

Thửa số 204, 205 đã được UBND huyện K cấp Giấy CNQSD đất số Đ 551394, ngày 24/11/2004 cho ông Y H Êban và bà H’H1 Byă (bố mẹ vợ của ông Y B Êban) theo Quyết định số 484/QĐ-UB, ngày 08/4/2004 của UBND huyện K.

Theo ông Y B, bà H’ Đ trình bày thì năm 2016 ông bà đi làm thủ tục cấp Giấy CNQSD đất cho 2 thửa đất số 204, 205 trên, vì ông bà không biết đất đã được cấp bìa đỏ. Tuy nhiên khi làm thủ tục kê khai thì UBND xã K1 hướng dẫn kê khai với thửa số 659, tờ bản đồ số 16. Mặc dù, số mới của 02 thửa này là 657, 658, tờ bản đồ số 6. Dẫn đến sai sót thông tin trong việc cấp Giấy CNQSD đất. Sau đó, do không biết việc cấp Giấy CNQSD đất bị nhầm lẫn nên ông bà đã mang đi thế chấp tại Ngân hàng TMCP Q cho khoản vay 240 triệu của mình. Đến nay do chưa thanh toán được hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng TMCP Q – Chi nhánh Đắk Lắk vẫn đang quản lý Giấy CNQSD đất số BY 665895, ngày 12/5/2016.

Như vậy, việc UBND huyện K cấp Giấy CNQSD đất số BY 665895, ngày 12/5/2016 cho hộ ông Y B Êban, bà H’ Đ Byă đối với thửa đất số 659, tờ bản đồ số 16, tổng diện tích: 7.660 m2, tại: Buôn K2, xã K1, là không đúng đối tượng, không đúng chủ sử dụng đất, cần phải hủy bỏ.

Về việc thẩm định tài sản thế chấp, Ngân hàng TMCP Q trình bày thực hiện đúng theo quy định của Ngân hàng nhà nước; theo đó, việc thẩm định không cần có mặt của đại diện chính quyền địa phương.

Theo trình bày của các bên thì Ngân hàng thực hiện việc thẩm định tài sản thế chấp vào ngày 23/8/2018, chỉ có đại diện Ngân hàng và ông Y B, bà H’ Đ, không có đại diện của chính quyền địa phương. Đại diện Ngân hàng trình bày khi thẩm định có đối chiếu bản đồ số hóa. Tuy nhiên, Ngân hàng cho rằng việc cấp Giấy CNQSD đất bị sai đối tượng không phải lỗi của ngân hàng, vì trách nhiệm kê khai thông tin thửa đất là của UBND huyện K. Về biên bản thẩm định tài sản thế chấp của ngân hàng thì theo trình bày, ngân hàng không thể cung cấp cho tòa án theo quy định, vì đây là tài liệu nội bộ của ngân hàng.

Từ những lập luận trên, HĐXX nhận thấy yêu cầu khởi kiện của ông Y B Êban và bà H’ Đ Byă là có căn cứ để chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên người khởi kiện không phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, hộ ông Y B và bà H’ Đ thuộc hộ nghèo nên được miễn nộp tiền tạm ứng án phí hành chính.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; Điều 158; Điều 164; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính;

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Y B Êban và bà H’ Đ Byă.

Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 665895, ngày 12/5/2016 của UBND huyện K cấp cho hộ ông Y B Êban và bà H’ Đ Byă đối với thửa đất số 659, tờ bản đồ số 16; tổng diện tích: 7.660 m2, mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm, vị trí thửa đất tại: Buôn K2, xã K1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Ủy bân nhân dân huyện K phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.

[3] Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ