vanban.org

Bản án 44/2021/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bích N đối với bà Nguyễn Thị Lạc K về việc “Tranh chấp hợp đồng hóp hụi”.

Buộc bà Nguyễn Thị Lạc K có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Lê Thị Bích N số tiền hụi là 31.000.000đ. Kể từ ngày bà Lê Thị Bích N có đơn yêu cầu thi hành án, thì bà Nguyễn Thị Lạc K phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp hụi"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bích N đối với bà Nguyễn Thị Lạc K về việc “Tranh chấp hợp đồng hóp hụi”.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦ THỪA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2021/DS-ST
Ngày: 30-6-2021
“V/v Tranh chấp hợp đồng góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thanh Giang

2. Bà Cao Lê Cẩm Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 52/2021/TLST-DS, ngày 26/4/2021. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2021/QĐST-DS, ngày 01/6/2021 giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bích N, sinh năm 1983. Địa chỉ: ấp 4, xã P, huyện T, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Lạc K (tên thường gọi: 10 Gái), sinh năm 1957. Địa chỉ: ấp 4, xã P, huyện T, tỉnh Long An.

(Các đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị Bích N trình bày: Vào ngày 10/3/2019 (AL), bà Lê Thị Bích N có tổ chức 01 dây hụi 2.000.000đ gồm 22 phần, hụi huê hồng, một tháng khui một lần, bà Nguyễn Thị Lạc K tham gia 01 phần, trong giấy hụi bà Khóa tham gia với tên “Cô 10 Gái”, bà Khóa đã đóng hụi và hốt hụi vào kỳ thứ 2 số tiền 27.900.000đ. Ngày 20/4/2019 (AL) bà Nhặn đã giao toàn bộ số tiền hụi trên cho bà Khóa. Hụi mãn vào ngày 20/11/2020 (AL). Sau khi hốt hụi bà Khóa đóng được 02 kỳ hụi (kỳ thứ 3 và kỳ thứ 4) số tiền 4.000.000đ đến kỳ thứ 5 bà Khóa có đóng 1.000.000đ thì ngưng không đóng tiếp. Do bà Khóa không thực hiện nghĩa vụ đóng hụi nên bà Nhặn có nộp đơn hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Phú vào tháng 08/2020 và tháng 03/2021, tại buổi hòa giải bà Nhặn đồng ý cho bà Khóa trả dần mỗi tháng 500.000đ, sau đó thì bà Khóa có trả cho bà Nhặn 04 tháng số tiền 2.000.000đ rồi ngưng cho đến nay. Bà Nhặn đã choàng hụi cho bà Khóa với số tiền là 31.000.000đ. Nay bà Nhặn khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Lạc K trả cho bà số tiền nợ hụi là 31.000.000 đồng. Bà Nhặn không đồng ý cho bà Khóa trả dần số tiền nợ hụi trên vì trước đây bà có cho bà Khóa trả dần mỗi tháng 500.000đ nhưng bà Khóa không thực hiện. Về lãi suất bà Nhặn không yêu cầu.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị Lạc K trình bày: Bà Khóa thừa nhận có tham gia 01 phần hụi trong dây hụi như bà Nhặn trình bày. Khi tham gia hụi bà lấy tên 10 Gái là tên gọi thường ngày của bà. Ngày 20/4/2019 (AL) bà Nhặn đã giao toàn bộ số tiền hụi 27.900.000đ cho bà. Hiện nay bà Khóa còn nợ bà Nhặn tổng cộng số tiền hụi là 31.000.000đ. Bà Khóa đồng ý trả cho bà Nhặn nhưng xin trả dần mỗi tháng 500.000đ đến khi hết số tiền nợ hụi, vì chồng bà đã mất, bà đã lớn tuổi, không có thu nhập, gia đình đang gặp khó khăn. Ngoài ra bà Khóa không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Vụ án được Tòa án tiến hành hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn vẫn giữ nguyên lời trình bày và không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An phát biểu: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp và đúng tư cách các đương sự, việc giải quyết vụ án đúng thời hạn quy định. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bích N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Lê Thị Bích N khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Lạc K trả số tiền hụi. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Bà Nguyễn Thị Lạc K đang cư trú tại ấp 4, xã Mỹ Phú, huyện Thủ Thừa; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ thì tranh chấp trên thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa.

Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

Bà Nhặn khởi kiện yêu cầu bà Khóa hoàn trả số tiền hụi 31.000.000đ. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Khóa thừa nhận có tham gia hụi do bà Nhặn làm chủ hụi và còn thiếu bà Nhặn số tiền 31.000.000đ. Tuy nhiên bà Khóa xin trả dần do hoàn cảnh khó khăn. Việc xin trả dần của bà Khóa không được bà Nhặn chấp nhận; đồng thời pháp luật không quy định việc cho trả dần. Do đó yêu cầu của bà Khóa không được chấp nhận.

Nhận thấy bà Khóa tham gia 01 phần hụi mở vào ngày 10/3/2019 (AL) do bà Nhặn làm chủ hụi. Bà Khóa đã hốt hụi sau đó không đóng lại hụi chết là vi phạm nghĩa vụ của hụi viên. Bà Nhặn đã choàng hụi thay cho bà Khóa số tiền 31.000.000đ. Hiện nay hụi đã mãn. Do đó bà Nhặn khởi kiện yêu cầu bà Khóa phải trả tiền hụi là có cơ sở và được chấp nhân. Buộc bà Khóa phải có nghĩa vụ hoàn trả tiền nợ hụi cho bà Nhặn.

Về lãi suất: Bà Nhặn không yêu cầu nên không giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Do yêu cầu của bà Lê Thị Bích N được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Lạc K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho bà Lê Thị Bích N theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng được miễn do là người cao tuổi theo quy định tại Điều 12 và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26 và các Điều 35, 39, 147, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 471 Bộ luật dân sự; Điều 24, Điều 25 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP, ngày 19/02/2019 về hụi, họ, phiêu phường của Chính phủ. Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016; Điều 26 luật thi hành án dân sự.

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bích N đối với bà Nguyễn Thị Lạc K về việc “Tranh chấp hợp đồng hóp hụi”.

Buộc bà Nguyễn Thị Lạc K có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Lê Thị Bích N số tiền hụi là 31.000.000đ.

Kể từ ngày bà Lê Thị Bích N có đơn yêu cầu thi hành án, thì bà Nguyễn Thị Lạc K phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Lạc K được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả 775.000đ số tiền tạm ứng án phí cho bà Lê Thị Bích N theo biên lai thu số 0007798 ngày 20/4/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa.

3/ Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

4/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án được quyền tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật Thi hành dân sự án. *Nơi nhận:

Cỡ chữ