- Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Quốc T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2021/DS-ST Ngày 07-10-2021 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Trường Thắng;
Bà Trần Thị Sang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Kiên Thị Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh không tham gia phiên tòa.
Ngày 07 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 725/2021/TLST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2021/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Quốc T, sinh năm 1984 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Ông Trương Văn C, sinh năm 1967 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thị Thu D, sinh năm 1984 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 5 năm 2021 và các lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, ông Huỳnh Quốc T là nguyên đơn trình bày: Ông Huỳnh Quốc T và ông Trương Văn C có giao dịch làm ăn trong việc mua bán thức ăn và thuốc thủy sản từ ngày 21 tháng 11 năm 2018 đến ngày 09 tháng 10 năm 2019.
Đến ngày 09 tháng 10 năm 2019 ông T tổng kết hóa đơn theo dõi bán hàng thì ông C còn nợ lại tổng số tiền là 75.436.500 đồng. Quá trình giao dịch thanh toán tiền thì con ông C là bà Trương Thị Thu D đại diện ông C trực tiếp thanh toán tiền mua hàng và ký nhận nợ cho ông T. Nhiều lần ông T đòi nợ, ông C hứa trả nhiều lần nhưng không trả.
Nay ông T yêu cầu ông C trả số tiền mua thức ăn còn thiếu là 75.436.500 đồng và yêu cầu tính tiền lãi theo lãi suất 1%/tháng tính từ ngày 09 tháng 10 năm 2019 cho đến khi ông C hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, ông T rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu ông Trương Văn C trả số tiền gốc 75.000.000 đồng, không yêu cầu trả số tiền 436.500 đồng và không yêu cầu tính tiền lãi.
Ông Trương Văn C là bị đơn, bà Trương Thị Thu D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có văn bản trình bày ý kiến nộp cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên việc hòa giải không tiến hành được do ông Trương Văn C, bà Trương Thị Thu D vắng mặt tại các phiên họp hòa giải nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng: Quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng mua bán”. Bị đơn cư trú tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Ông Trương Văn C là bị đơn, bà Trương Thị Thu D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Ông Huỳnh Quốc T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt cả ông T, ông C, bà D.
Về mặt nội dung: Xét thấy việc ông Trương Văn C có mua bán thức ăn, thuốc thủy sản với ông Huỳnh Quốc T và còn nợ lại ông T số tiền 75.436.500 đồng là có thật. Thể hiện qua hóa đơn mua bán, có ký xác nhận của hai bên. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông C, bà D nhưng ông C, bà D vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến nộp cho Tòa án. Vì vậy xem như ông C, bà D không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của ông T cũng như các tài liệu, chứng cứ ông T đưa ra. Do đó, ông T yêu cầu ông C trả số tiền 75.000.000 đồng là có căn cứ để chấp nhận. Căn cứ Điều 440 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì ông C phải có nghĩa vụ trả cho ông T số tiền 75.000.000 đồng. Đối với số tiền 436.500 đồng ông T đã rút lại, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với số tiền này.
Về tiền lãi: Trong quá trình giải quyết vụ án ông Huỳnh Quốc T đã rút lại yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử đình chỉ, không xem xét yêu cầu tính lãi.
Về án phí: Ông Trương Văn C phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; Điều 228; của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 430; Điều 440 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Quốc T.
Buộc ông Trương Văn C trả cho ông Huỳnh Quốc T số tiền 75.000.000 đồng.
Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của ông Huỳnh Quốc T về việc yêu cầu ông Trương Văn C trả số tiền gốc là 436.500 đồng và yêu cầu tính tiền lãi theo lãi suất 1%/tháng tính từ ngày 09 tháng 10 năm 2019 cho đến khi ông C hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí: Ông Trương Văn C phải chịu 3.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Huỳnh Quốc T số tiền 2.245.000 đồng đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tiền số 0007005 ngày 12 tháng 5 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Đương sự; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Anh Khoa |