vanban.org

Bản án 44/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Tuyên án 14/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nguyễn Thành T phạm tội “cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành T phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nguyễn Thành T phạm tội “cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2020/HSST
Ngày: 14/7/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Xuân Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Thuấn và bà Võ Thị Hồng Trà;

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Lê Trúc Uyên – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Vương – Kiểm sát viên.

Vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 14 tháng 7 năm 2020; tại hội trường Ủy ban nhân dân xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên, Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa mở phiên tòa lưu động công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 48/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Thành T - sinh năm 1997; ĐKNKTT và chỗ ở: đường P, Phường M, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Cha: Nguyễn Văn S – Sinh năm: 1957, Mẹ: Nguyễn Thị T - Sinh năm: 1959; Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 07/12/2018, bị UBND phường M, TP. T áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong thời gian giáo dục ngày 07/3/2019.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời bị hại: Chị Nguyễn Thị M - Sinh năm: 1994; Địa chỉ: Xóm T, thôn N, xã B, thành phố T, Phú Yên. có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời làm chứng: Ông Nguyễn N – Sinh năm: 1964; Ông Nguyễn Văn T – Sinh năm: 1986; Cùng địa chỉ: Xóm T, thôn N, xã B, thành phố T, Phú Yên. có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Sáng ngày 01/4/2020, Nguyễn Thành T thấy trong điện thoại của bạn gái là Nguyễn Thị M – Sinh năm: 1994, trú thôn N, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên có tin nhắn với chồng cũ nên bỏ đi uống bia. Đến khoảng 16 giờ 50 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số 78C1 – nnnnn mang theo 01 con dao Thái Lan dài 21 cm đến nhà M. Khi vào nhà, thấy M đang tắm cho con nên T đứng đợi. Khi M vừa đi lên phòng khách thì T cầm tay M kéo lại rồi tự cầm dao đâm 03 nhát vào bụng mình nhưng không bị thương tích. M vung tay định bỏ chạy thì T chụp tay M kéo lại, T cầm dao đâm liên tiếp vào lưng và hông của M gây thương thích làm M té ngã xuống nền nhà. T tiếp tục cầm dao đâm từ trên xuống, M dùng tay trái vung lên đỡ thì bị trúng vào khuỷu tay gây thương tích. Lúc này, anh Nguyễn Văn T – Sinh năm: 1986 (anh ruột của M) và ông Nguyễn N – Sinh năm: 1964 (cha ruột M), đang ở sau nhà nghe tiếng hô la nên chạy vào khống chế T rồi báo cáo Công an xã B đến giải quyết.

Tại bản kết luận giám định pháp y số 116/TgT ngày 04/5/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Yên, kết luận: tỷ lệ thương tích của Nguyễn Thị M là 04% do vật cạnh sắc gây ra.

Ngày 19/5/2020, Nguyễn Thị M có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Tại bản cáo trạng số: 46/VKS-HS ngày 19/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố Nguyễn Thành T về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a, i Khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại 5.500.000đ.

- Bị hại giữ nguyên yêu cầu khởi tố vụ án. đề nghị HĐXX xem xét áp dụng mức hình phạt đúng theo quy định pháp luật. Về phần bồi thường dân sự: tại phiên tòa bị cáo bồi thường 5.500.000đ, bị hại thống nhất với mức bồi thường của bị cáo và không yêu cầu gì thêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa luận tội: giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo; đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng: điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thành T.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thành T từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về bồi thường dân sự: công nhận sự thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và bị hại, buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại 5.500.000đ, bị cáo đã bồi thường 500.000đ, nên phải tiếp tục bồi thường 5.000.000đ.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 BLTTHS, đề nghị Hội đồng xét xử: tịch thu tiêu hủy 01 con dao Thái Lan dài 21 cm do không có giá trị sử dụng, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/6/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuy Hòa và Chị cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.

Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tuy Hòa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thành T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của người bị hại, lời khai các nhân chứng và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Vì vậy, đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 16 giờ 50 phút ngày 01/4/2020 tại thôn N, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên, Nguyễn Thành T đã có hành vi dùng dao Thái Lan đâm liên tiếp vào lưng, hông và bụng của Nguyễn Thị M, sau khi M té ngã, T tiếp tục cầm dao đâm từ trên xuống, M dùng tay trái lên đỡ thì bị trúng vào khuỷu tay gây thương tích. Hậu quả, Nguyễn Thị M bị thương tích với tỷ lệ 04%. Mặc dù, bị hại M chỉ bị thương tích 04%, nhưng bị cáo đã vô cớ sử dụng dao gây thương tích cho bị hại là vừa có tính chất côn đồ, vừa sử dụng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại được quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 BLHS. Đồng thời bị hại M có đơn yêu cầu khởi tố vụ án và tại phiên tòa vẫn giữa nguyên yêu cầu khởi tố. Với các căn cứ nêu trên, HĐXX kết luận bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người bị hại trái pháp luật, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vị của mình dùng dao đâm nhiều nhát vào lưng, hông, bụng và khuỷu tay người bị hại là nguy hiểm nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội của mình, sau khi bị hại M bỏ chạy bị té ngã, bị cáo vẫn tiếp tục dùng dao đâm bị hại. Bị cáo thực hiện hành vi quyết liệt, mục đích phạm tội đến cùng, bị cáo phạm tội với 02 tình tiết định khung là có tinh chất côn đồ và sử dụng hung khí nguy hiểm. Bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 07/12/2018, bị UBND phường M, thành phố T áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong thời gian giáo dục ngày 07/3/2019. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi của bị cáo gây ra và tương xứng với nhân thân của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, tại phiên tòa bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại 5.500.000đ, bị cáo đã nộp bồi thường 500.000đ cho bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và bị cáo từng có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Về dân sự: tại phiên tòa, bị cáo T và bị hại Nguyễn Thị M thống nhất thỏa thuận bị cáo phải bồi thường cho bị hại 5.500.000đ, bị cáo đã bồi thường 500.000đ, nên còn phải tiếp tục bồi thường 5.000.000đ. Hoàn trả cho bị hại số tiền bị cáo đã nộp để khắc phục là 500.000đ theo biên lai thu tiền số 0002159 ngày 19/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 con dao Thái Lan dài 21 cm do không có giá trị sử dụng, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/6/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuy Hòa và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.

- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nguyễn Thành T phạm tội “cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về dân sự: căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật dân sự 2015. Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại. Buộc bị cáo Nguyễn Thành T phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị M số tiền 5.500.000đ (năm triệu năm trăm ngàn đồng), bị cáo đã bồi thường 500.000đ (năm trăm ngàn đồng), nên còn phải tiếp tục bồi thường 5.000.000đ (năm triệu đồng). Hoàn trả cho bị hại số tiền bị cáo nộp khắc phục hậu quả 500.000đ theo biên lai thu tiền số 0002159 ngày 19/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 con dao Thái Lan dài 21 cm do không có giá trị sử dụng, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/6/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuy Hòa và Chị cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thành T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ