- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Viết H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Viết H (Hùng A) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số: 44/2020/HSST Ngày 25-8-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đình Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Hữu Tỷ và ông Nguyễn Hoài Phương
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Duy Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 42/2020/HS-ST ngày 01-7-2020 đối với bị cáo:
1. Nguyễn Viết H (tên gọi khác: Hùng A), sinh năm 1993, tại tỉnh Lâm Đồng; trú tại: Thôn 6, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến Đ và bà Lê Thị T; bị cáo chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại- Có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Anh Nguyễn Văn Đ, địa chỉ: Thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam - có mặt tại phiên tòa.
Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Anh Nguyễn Trọng H, địa chỉ: Thôn 6, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – có mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY:
Bị cáo Nguyễn Viết H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 30-10-2019, anh Nguyễn Văn Đvà anh Trần Văn T (sinh năm 1977, có hộ khẩu thường trú tại buôn M’D, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) là công nhân làm đường ở xã Q đến Nhà nghỉ T78 để thuê phòng ngủ qua đêm. Do đã uống rượu trước đó nên giữa anh Đ và anh T có lời qua tiếng lại với bà T về giá tiền thuê phòng. Nghe tiếng ồn ào trước nhà, Viết H đi ra và nói “Nghỉ thì nghỉ, không nghỉ thì cút”. Sau đó, giữa anh Đ và Viết H xảy ra cãi nhau và thách thức đánh nhau. Thấy vậy, anh T bỏ đi về trước, anh Đ cũng đi ra đứng bên kia lề đường quốc lộ 28 đối diện với nhà nghỉ T78. Lúc này, Viết H vào nhà bếp lấy 01 con dao chạy ra đuổi theo chém 01 nhát vào anh Đ thì anh Đ dùng tay trái cầm vào phần lưỡi dao để đỡ thì bị lưỡi dao cứa vào lòng bàn tay. Anh Đ tiếp tục giữ con dao còn Viết H đẩy anh Đ lùi lại làm hai người ngã xuống đất. Viết H ngồi đè lên người anh Đ rồi giật con dao khỏi tay anh Đ. Vừa giật dao ra thì Nguyễn Trọng H ( thường gọi là Hùng E, là em trai sinh đôi của Viết H) chạy đến đạp 01 cái vào đùi anh Đ rồi kéo Viết H đứng dậy. Viết H tiếp tục dùng dao chém 01 nhát trúng vào mũ bảo hiểm anh Đ đang đội trên đầu. Anh Đ bị thương ở lòng bàn tay trái, được đưa đến điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Nông.
Ngày 31-10-2019, anh Đ có đơn yêu cầu giám định thương tích và yêu cầu khởi tố vụ án. Sau khi có kết quả xác minh, ngày 17-12-2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong khởi tố để điều tra đối với Nguyễn Viết H về tội “Cố ý gây thương tích”.
Trong quá trình điều tra vụ án, Nguyễn Viết H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Viết H tự nguyện bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Văn Đ số tiền 10.000.000 đồng. Viết H có ông nội là thương binh trong kháng chiến chống Pháp.
Tại bản giám định pháp y về thương tích số 17/TgT, ngày 13-11-2019 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Đắk Nông, kết luận đối với anh Nguyễn Văn Đ như sau: Sẹo vết thương phần mềm số lượng ít, kích thước nhỏ và lớn. Tỷ lệ 08%; đứt gân gập bàn tay trái, ảnh hưởng đến động tác gập duỗi ngón tay mức độ nhiều. Tỷ lệ 3,68%. Tổng tỷ lệ thương tích 11,68% (làm tròn bằng 12%). Vết thương do vật sắc tác động gây nên.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã thu giữ: 01 con dao (dài 30cm, cán dao bằng gỗ hình tròn, lưỡi dao bằng kim loại dài 26 cm, bản dao rộng nhất 06cm, nhỏ nhất 04cm) do Nguyễn Viết H giao nộp; 01 mũ bảo hiểm (màu xám, có kính chụp, bề mặt mũ có chữ Napoli) của anh Nguyễn Văn Đ.
Ngày 27-02-2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã ra quyết định xử lý vật chứng số 11, trả lại mũ bảo hiểm trên cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn Đ.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn Đ yêu cầu Nguyễn Viết H bồi thường thiệt hại về sức khỏe số tiền 241.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi mốt triệu đồng), tại phiên tòa, anh Đ yêu cầu bị cáo H bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Bị cáo H tự nguyện bồi thường số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để bồi thường một phần thiệt hại cho anh Đ.
Tại bản Cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 30-06-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố bị cáo Nguyễn Viết H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng và thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là đúng, không oan.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi xem xét, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết H phạm tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Viết H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; các biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao (dài 30cm, cán dao bằng gỗ hình tròn, lưỡi dao bằng kim loại dài 26 cm, bản dao rộng nhất 06cm, nhỏ nhất 04cm) do Nguyễn Viết H giao nộp do không còn giá trị sử dụng; chấp nhận ngày 27-02-2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã ra quyết định xử lý vật chứng số 11, trả lại mũ bảo hiểm đã thu giữ cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn Đ.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự, các Điều 584, Điều 585 và Điều 590 của Bộ luật dân sự: Chấp nhận việc bị cáo H đã tự nguyện bồi thường số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) cho bị hại anh Nguyễn Văn Đ, buộc bị cáo Nguyễn Viết H phải tiếp tục bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Văn Đ theo quy định của pháp luật.
Đối với hành vi của Nguyễn Trọng H không gây thương tích cho anh Nguyễn Văn Đ, anh Đ không yêu cầu giám định nên không đề cập xử lý.
Tại phiên tòa bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY:
. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Glong, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2.]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được lưu trong hồ sơ vụ án. Các chứng cứ buộc tội và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đối với việc giải quyết vụ án là có căn cứ pháp lý. Do ý thức xem thường pháp luật, xem thường sức khỏe của người khác, nên vào khoảng 23 giờ ngày 30-10-2019, tại Thôn 6, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, do có mâu thuẫn về giá thuê phòng trọ, Nguyễn Viết H và anh Nguyễn Văn Đ cải nhau và thách thức đánh nhau, Nguyễn Viết H đã dùng dao là hung khí nguy hiểm đuổi theo chém trúng vào bàn tay trái của anh Đ, hậu quả, anh Đ bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%. Vì vậy đã có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Nguyễn Viết H phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ, khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Điều 134 BLHS quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”…
a) Dùng …hung khí nguy hiểm;...
…
i) Có tính chất côn đồ;
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
...
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30 % nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.”
. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì bị cáo biết tính mạng, sức khỏe của con người được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều bị xử lý nghiêm minh; xét thấy giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì với nhau, chỉ vì xích mích trong việc bị hại đến thuê phòng trọ, bị cáo đã dùng dao là hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho anh Đ gây nên thương tích là 12%; do đó bị cáo phải chịu tình tiết định khung là dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ được quy định tại điểm a, điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.
. Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và chưa có tiền án tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Sau khi gây thương tích cho bị hại, bị cáo đã tác động gia đình, cùng gia đình đến thăm hỏi, động viên bị hại, đồng thời cũng đã tự nguyện bồi thường số tiền 10.000.000 đồng cho bị hại, bị cáo có ông nội là Nguyễn Long là thương binh trong kháng chiến chống pháp và ông chú ruột Nguyễn Đình N là liệt sĩ. Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc truy tố bị cáo và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là có cơ sở, Hội đồng xét xử sẽ xem xét.
. Xét hành vi dùng chân đạp vào người anh Nguyễn Văn Đ của anh Nguyễn Trọng H, do anh Đ không yêu cầu giám định và không gây nên thương tích, mặt khác việc dùng chân đạp anh Đ nhằm ngăn cản bị cáo Nguyễn Viết H và anh Đ đánh nhau, không nhằm gây thương tích cho anh Đ nên không xem xét xử lý.
. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 241.000.000đ, gồm các khoản: Tiền viện phí và thuốc điều trị là 43.000.000; tiền công người chăm sóc bị hại trong hai tháng (60 ngày x 300.000đ/ngày) là 18.000.000đ; tiền mất thu nhập thong thời gian điều trị là 6 tháng (180 ngày) x 1.000.000đ/ngày là 180.000.000đ; tuy nhiên, tại phiên tòa bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, việc yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị hại là chính đáng, Hội đồng xét xử căn cứ mức độ thương tích của bị hại và quy định tại Điều 590 của Bộ luật dân sự để tính mức bồi thường, cụ thể, buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại các khoản: Tiền thuốc + viện phí là: 21.524.580đ (có hóa đơn); bị hại làm nghề xây dựng nên mức thu nhập bình quân là 450.000đ/ngày; thiệt hại về thu nhập thực tế bị mất trong thời gian bị hại điều trị (căn cứ trên hóa đơn điều trị) là 51 ngày (từ ngày 31-10-2019 đến ngày 21-12-2019) x 450.000đ/ngày là 22.950.000đ; tiền công người chăm sóc trong thời gian bị hại nằm điều trị tại bệnh viện là 15 ngày x 300.000đ/ngày là 4.500.000đ, tiền xe đi điều trị (không có hóa đơn) là 1.500.000đ; tiền phục hồi sức khỏe là 10.000.000đ, tiền tổn thất tinh thần là 10 tháng lương cơ bản là 14.900.000đ. Tổng cộng 75.374.580đ. Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000đ (số tiền này đang tạm gửi tại tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ), bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiên 65.374.580đ.
. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao (dài 30cm, cán dao bằng gỗ hình tròn, lưỡi dao bằng kim loại dài 26 cm, bản dao rộng nhất 06cm, nhỏ nhất 04cm) do Nguyễn Viết H giao nộp do không còn giá trị sử dụng; chấp nhận ngày 27-02-2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã ra quyết định xử lý vật chứng số 11, trả lại mũ bảo hiểm đã thu giữ cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn Đ.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Viết H (Hùng A) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586 và Điều 590 Bộ luật dân sự: Buộc các bị cáo phải bồi thường cho người bị hại số tiền 75.374.580đ, được khấu trừ số tiền bị cáo đã tự nguyện bồi thường là 10.000.000đ (đang được tạm gửi tại tài khoản Chi cục Thi hành án huyện Đ), anh Đ liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ để nhận số tiền trên, buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền 65.374.580đ (sáu mươi lăm triệu ba trăm bảy mươi bốn nghìn năm trăm tám mươi đồng).
Kể từ ngày bị hại anh Nguyễn Văn Đ có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không trả khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao (đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06-7-2020 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ); chấp nhận ngày 27-02-2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã ra quyết định xử lý vật chứng số 11, trả lại mũ bảo hiểm đã thu giữ cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn Đ.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.268.729đ án phí dân sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐắkNông; - Sở tư pháp tỉnh ĐắkNông; - VKSND huyện Đắk Glong; - Công an huyện Đắk Glong; - Chi cục THADS huyện Đ; - UBND xã nơi bị cáo cư trú (để biết); - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu HS. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (ĐÃ KÝ) Phạm Đình Hƣng THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA |