vanban.org

Bản án 44/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Châu, tỉnh An Giang Tuyên án 18/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Tuấn H (G) phạm tội: “Trộm cắp

Xử phạt: Nguyễn Tuấn H (G) 01 (một) năm tù; Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm giam 15/6/2020 (ngày mười lăm, tháng sáu, năm hai nghìn không trăm hai mươi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn H (G), sinh năm 1993 - Võ Phi L, sinh năm 1992 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Tuấn H (G) phạm tội: “Trộm cắp
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 44/2020/HS-ST
Ngày: 18/8/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bạch Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quốc Dũng;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Khuyên.

.

Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Hữu Lợi – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Quách Thịnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 8 năm 2020, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2020/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Tuấn H (G), sinh năm 1993; Nơi sinh: Tân Châu - An Giang; Nơi cư trú (ĐKHKTT): Khóm H, phường T, thị xã Y, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn S, sinh năm 1966 và bà Hà Thị Thu V, sinh năm 1966; Chưa vợ con.

Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 28/6/2019, bị Uỷ ban nhân dân phường Long Sơn, thị xã Tân Châu, xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”;

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/6/2020 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Võ Phi L, sinh năm 1992; Nơi sinh: Tân Châu - An Giang; Nơi cư trú (ĐKHKTT): Khóm H, phường T, thị xã O, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn B, sinh năm 1953 (chết) và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1957; Chưa vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/6/2020 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

1. Trần Hữu L1, sinh năm 1981; Địa chỉ: Khóm L, phường S, thị xã R, tỉnh An Giang; vắng mặt.

2. Võ Văn H, sinh năm 1977; Địa chỉ: Ấp V, xã C, thị xã P, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Trần Công R, sinh năm 1951; Địa chỉ: Ấp G, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang; có mặt.

2. Trần Quang V, sinh năm 1989; Địa chỉ: Ấp G, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang; có mặt.

3. Nguyễn Tấn S, sinh năm 1966; Địa chỉ: Khóm H, phường T, thị xã O, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Người làm chứng: Đỗ Thị A; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 ngày 14/5/2020, Nguyễn Tuấn H điều khiển xe môtô, biển kiểm soát 67H1 – 2719 của Nguyễn Tấn S (cha bị cáo H) chở Võ Phi L và đem theo 01 cây kiềm bấm, 01 chìa khóa số 17 để tìm tài sản lấy trộm. Khi cả hai đến mương số 02 thuộc Khóm L, phường S, thị xã R, tỉnh An Giang thì thấy máy bom nước, nhãn hiệu Kobuta của ông Trần Hữu L1 để trên bờ mương, quan sát xung quanh không thấy ai trông giữ, H và L xuống xe, dùng kiềm bấm và chìa khóa mở máy bom nước ra khỏi thanh sắt. Sau đó, H và L đem máy bom nước vừa lấy trộm đến vựa phế liệu bán cho ông Trần Công R, giá 300.000 đồng. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, H và L tiếp tục điều khiển xe môtô, biển kiểm soát 67H1 – 2719 đến khu vực ấp Vĩnh Lợi 2, xã Châu Phong, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Tại đây, H và L lấy trộm máy bom nước, sử dụng dầu Diesel của anh Võ Văn H để gần bờ ruộng và không ai trông giữ. Sau đó, đem bán cho anh Trần Quang V, giá 416.000 đồng. Cả 02 lần lấy trộm máy bom nước bán lấy tiền, H và L đều chia nhau tiêu xài cá nhân.

Vật chứng thu giữ: 01 máy bom nước, nhãn hiệu Kobuta (gọi là máy D7), sử dụng nhiên liệu dầu Diesel (đã qua sử dụng); 01 xe môtô, biển kiểm soát 67H1 – 2719, nhãn hiệu Knight, màu nâu, số khung 200101365, số máy 10771534 (đã qua sử dụng); 01 chìa khóa số 17, bằng kim loại màu trắng, có rỉ sét, dài 20,5cm, dùng để mở ốc vít (đã qua sử dụng); 01 cây kiềm bấm, bằng kim loại màu trắng, dài 14cm (đã qua sử dụng).

Đối với 01 máy bơm nước, không rõ nhãn hiệu, sử dụng dầu Diesel (thường gọi là máy D15) của anh Võ Văn H không truy tìm được.

Kết luận định giá tài sản số 36/KL-TTHS ngày 09/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Tân Châu:

- 01 máy bom nước, nhãn hiệu Kobuta (gọi là máy D7), sử dụng nhiên liệu dầu Diesel (đã qua sử dụng), giá trị còn lại là 2.300.000 đồng;

- 01 máy bơm nước, không rõ nhãn hiệu, sử dụng dầu Diesel, giá trị còn lại là 800.000 đồng;

Tổng cộng: 3.100.000 đồng.

Ngày 10/6/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can Nguyễn Tuấn H (G) và Võ Phi L để tạm giam.

Cáo trạng số 47/CT-VKSTC ngày 27/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn H (G) và Võ Phi L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu, bị cáo H và bị cáo L đều khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.

Bị hại ông Trần Hữu L1 khai, khoảng 11 giờ 00 ngày 14/5/2020, ông L1 có đến khu đất cặp vườn sinh thái Lan Vy thuộc khóm Long Hưng 2, phường Long Sơn, thị xã Tân Châu kiểm tra thì máy bom nước hiệu D7 của ông vẫn còn trên mương đất. Sau đó, ông về nhà để lấy dầu đổ vào máy, đến 12 giờ 00 trưa cùng ngày, ông L1 quay lại khu đất thì phát hiện máy bom nước bị mất nên ông L1 đến Công an trình báo sự việc. Ông L1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu khác.

Anh Võ Văn H khai, khoảng 16 giờ 00 ngày 14/5/2020, anh H đi làm ruộng về thì máy bom nước vẫn còn,, đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 15/5/2020, anh H ra ruộng làm thì phát hiện máy bom nước hiệu K15 của anh bị mất nên đã đến Công an xã Châu Phong trình báo sự việc. H máy bom nước của anh H không thu hồi được, anh H không yêu cầu bị cáo H và L bồi thường.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Công R khai, ông không nhớ thời gian nhưng cách khoảng một tuần thì có 02 thanh niên (không rõ họ tên) điều khiển xe môtô Dream màu nâu chở máy bom nước hiệu Kobuta có nắp sơn màu đỏ, nặng khoảng hơn 70 kg bán và ông mua giá 300.000 đồng. Khoảng 02 đến 03 ngày sau, thì 02 thanh niên này đến chuộc lại máy bom nước, ông đồng ý và không biết tài sản lấy trộm. Ông R đã nhận lại 300.000 đồng, không yêu cầu khác.

Anh Trần Quang V khai, khoảng 16 giờ 00, cách nay 7 – 8 ngày, anh V đang ở cơ sở thu mua phế liệu Kim Ngọc thuộc ấp Phú An A, xã Phú Vĩnh, thị xã Tân Châu thì có 02 người nam (không rõ họ tên, ở đâu) điều khiển xe môtô Dream chở máy bom nước (không rõ hiệu máy), nặng khoảng 104 kg bán, ông mua giá 416.000 đồng. Ngày 17/5/2020 ông V đã bán máy bom nước cùng với các phế liệu khác cho nhà máy tại thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Nguyễn Tấn S khai, ông là chủ sở hữu xe môtô, biển kiểm soát 67H1 – 2719, nhãn hiệu Knight, màu nâu (còn gọi là Dream Trung Quốc), ngày 14/5/2020, H (con ruột S) có sử dụng xe của ông, nhưng không biết H dùng xe trên đi lấy trộm tài sản. Ông S yêu cầu nhận lại xe mô tô.

Người làm chứng bà Đỗ Thị A khai, khoảng hơn 11 giờ ngày 14/5/2020, bà đi làm ruộng tại phần đất thuộc khóm Long Hưng 2, phường Long Sơn, thị xã Tân Châu thì thấy có 02 thanh niên điều khiển xe môtô chở 01 cái máy bom nước, không biết hiệu gì, máy có nắp màu đỏ, một người điều khiển xe, còn người kia ngồi phía sau ôm máy bom nước chạy hướng từ vườn sinh thái Lan Vy về hướng Sườn ba (Bãi rác).

Tại phiên tòa, các bị cáo H và L đồng khai nhận, ngày 14/5/2020, có lấy trộm 01 máy bom nước, nhãn hiệu Kobuta của ông Trần Hữu L1 đem bán cho ông Trần Công R, giá 300.000 đồng. Cùng ngày, tiếp tục lấy trộm 01 máy bom nước (không rõ nhãn hiệu) của anh Võ Văn H đem bán cho anh Trần Quang V, giá 416.000 đồng.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội:

Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Tuấn H và Võ Phi L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan và người làm chứng trong quá trình điều tra cùng các vật chứng được thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo H và L lén lút chiếm đoạt 01 máy bom nước hiệu Kobuta của ông Trần Hữu L1 và 01 máy bom nước của anh Võ Văn H, tổng trị giá là 3.100.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu truy tố đối với bị cáo Nguyễn Tuấn H và Võ Phi L là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố.

Đây là vụ án có đồng phạm nhưng giản đơn, các bị cáo H và L không có sự cấu kết chặt chẽ. H giữ vai trò chính, chủ động rủ rê, chuẩn bị dụng cụ và điều khiển xe chở bị cáo L thực hiện tội phạm. Bị cáo L tham gia với vai trò giúp trực tiếp tỏ ra tích cực.

Hành vi phạm tội của bị cáo H và L đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của công dân, các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, gây mất trật tự ở địa phương nên phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung trong xã hội.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình giao nộp tiền khắc phục hậu quả; trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế, thuộc thành phần lao động nghèo. Bị cáo H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đề nghị Hội đồng xét xử có xem xét khi lượng hình.

Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn H (G), từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Võ Phi L, từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt bổ sung, các bị cáo H và L có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đề nghị không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: 01 máy bom nước, nhãn hiệu Kobuta (gọi là máy D7), sử dụng nhiên liệu dầu Diesel (đã qua sử dụng) đã trả lại cho ông L1 ở giai đoạn điều tra nên không đề cập đến.

Đề nghị áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 chìa khóa số 17; 01 cây kiềm bấm, bằng kim loại màu trắng;

- Giao trả: 01 xe môtô, biển kiểm soát 67H1 – 2719, nhãn hiệu Knight, màu nâu, số khung 200101365, số máy 10771534 (đã qua sử dụng) cho ông Nguyễn Tấn S, do đây là phương tiện không liên quan đến việc phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Hữu L1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường khác; ông Võ Văn H không yêu cầu bị cáo H và L bồi thường do không thu hồi được máy bom nước nên không đề cập.

Trong phần tranh luận, bị cáo Nguyễn Tuấn H và Võ Phi L không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đồng ý theo Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến khác.

Các bị cáo nói lời sau cùng, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng,

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị cáo Nguyễn Tuấn H và Võ Phi L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản” xảy ra tại thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

[2] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại Trần Hữu L1, Võ Văn H; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Tấn S; người làm chứng Đỗ Thị A đều vắng mặt. Tuy nhiên, đối với những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung,

Hành vi phạm tội:

Bị cáo H và L khai nhận, do cần tiền tiêu xài nên khoảng 11 giờ 00 ngày 14/5/2020, bị cáo H điều khiển xe môtô, biển kiểm soát 67H1 – 2719 chở bị cáo L đến mương số 02 thuộc Khóm L, phường S, thị xã R, tỉnh An Giang tìm tài sản lấy trộm. Tại đây, bị cáo H và L thay phiên nhau dùng kiềm bấm bằng kim loại và chìa khóa số 17 tháo máy bom nước, nhãn hiệu Kobuta của ông Trần Hữu L1, rồi đem đến cơ sở thu mua phế liệu bán cho ông Trần Công R, giá 300.000 đồng. Cùng ngày, bị cáo H và L tiếp tục điều khiển xe môtô, biển kiểm soát 67H1 – 2719 đến khu vực ấp Vĩnh Lợi 2, xã Châu Phong, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang lấy trộm máy bom nước (không rõ nhãn hiệu) của anh Võ Văn H, sau đó đem đến cơ sở thu mua phế liệu bán cho anh Trần Quang V, với giá 416.000 đồng.

Tài sản bị cáo H và L lấy trộm 01 máy bom nước, nhãn hiệu Kobuta (gọi là máy D7), sử dụng nhiên liệu dầu Diesel (đã qua sử dụng), giá trị còn lại là 2.300.000 đồng; 01 máy bơm nước, không rõ nhãn hiệu, sử dụng dầu Diesel, giá trị còn lại là 800.000 đồng; tổng trị giá tài sản 3.100.000 đồng (theo Kết luận định giá tài sản số 36/KL-TTHS ngày 09/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự).

Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai bị hại; phù hợp lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp biên bản tiếp nhận tin báo về tội phạm ngày 14/5/2020 và các chứng cứ được thể hiện trong hồ sơ vụ án.

Đủ căn cứ kết luận bị cáo H và L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ông L1 và anh H, tổng trị giá 3.100.000 đồng là xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác.

Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cáo trạng số 47/CT-VKSTC ngày 27/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu truy tố hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Tuấn H và Võ Phi L là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

An ninh trật tự là vấn đề đặc biệt và cần quan tâm, mọi người cùng nhau giữ gìn trật tự chung ở địa phương, bảo vệ tài sản của nhau.

Tài sản của ông L1 và anh H thuộc quyền sở hữu của ông L1 và anh H, bất kỳ ai xâm hại sẽ bị xử lý theo pháp luật.

Ngày 28/6/2019, bị cáo H bị Ủy ban nhân dân phường Long Sơn, thị xã Tân Châu xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị cáo không sửa chữa sai lầm mà tiếp tục phạm tội.

Bị cáo L, năm 2014 đã bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 07/12/2015, chấp hành xong hình phạt, xóa án tích; nhưng bị cáo L không sửa chữa sai lầm trở thành người tốt mà thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Các bị cáo là thanh niên có sức khỏe, có khả năng lao động. Lẽ ra, các bị cáo phải tích cực lao động tạo thu nhập để lo chi phí cho bản thân và phụ giúp gia đình. Ngược lại, các bị cáo lợi dụng sự sơ hở của người khác để chiếm đoạt tài sản một cách trái pháp luật.

Về đồng phạm:

Khi thực hiện hành vi phạm tội, H và L không có sự bàn bạc, cấu kết, phân công. Tuy nhiên, bị cáo H giữ vai trò chính, chủ động rủ rê, chuẩn bị dụng cụ và điều khiển xe chở bị cáo L thực hiện tội phạm. Bị cáo L tham gia với vai trò giúp trực tiếp cùng H lấy trộm tài sản tỏ ra tích cực. Do đó, có xem xét đến tính chất và mức độ tham gia của từng bị cáo trong đồng phạm khi quyết định hình phạt.

Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo H và L có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; động viên gia đình tự nguyện giao nộp tiền khắc phục hậu quả; trình độ học vấn thấp nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, thuộc thành phần lao động nghèo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo H được hưởng nêu trên, bị cáo H còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” được qui định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

- Về hình phạt chính: Hành vi của các bị cáo H và L là nguy hiểm cho xã hội. Xét, có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung (theo Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Về hình phạt bổ sung, các bị cáo H và L không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- 01 chìa khóa bằng kim loại, chiều dài 20,5cm (trên thân khóa có hàng chữ DIAMOND và số 17); 01 cây kiềm bấm, bằng kim loại màu trắng, dài 14cm. Đây là công cụ mà bị cáo H và L thực hiện hành vi phạm tội; xét tịch thu tiêu hùy;

- 01 xe môtô, biển kiểm soát 67H1 – 2719, nhãn hiệu Knight, màu nâu, số khung 200101365, số máy 10771534, đã qua sử dụng (không có giấy đăng ký xe). Bị cáo H lấy xe của ông S làm phương tiện trộm cắp tài sản, ông S không biết, không có chứng cứ liên quan đến việc phạm tội. Xét, giao trả cho ông Nguyễn Tấn S.

Theo quy định tại điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; Điềm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu ngày 04/8/2020).

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Trần Hữu L1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường khác nên không đề cập đến.

Đối với máy bom nước hiệu K15 không thu hồi được. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Tân Châu, bị hại anh Võ Văn H không yêu cầu bồi thường. Tại phiên tòa, ông H vắng mặt. Xét, tách vụ án dân sự nếu ông H có yêu cầu sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

Gia đình các bị cáo H và ông L tự nguyện giao nộp cho mỗi bị cáo 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng (theo các biên lai thu 0002118 và 0002119 ngày 11/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu) để khắc phục hậu quả, không tranh chấp. Xét, giao trả cho các bị cáo H và L, mỗi bị cáo 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

(Theo quy định khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về những vấn đề khác:

Đối với ông Trần Công R và Trần Quang V không biết máy bom nước của H và L đem bán là do lấy trộm mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Tân Châu không xử lý ông R và V về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là phù hợp.

Tại phiên tòa, cũng nhắc nhở ông R và anh V khi mua tài sản phải biết rõ nguồn gốc để sớm tố giác tội phạm.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo H và L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Theo điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Tuấn H (G) phạm tội: “Trộm cắp

tài sản”;

Xử phạt: Nguyễn Tuấn H (G) 01 (một) năm tù;

Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm giam 15/6/2020 (ngày mười lăm, tháng sáu, năm hai nghìn không trăm hai mươi).

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo: Võ Phi L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt: Võ Phi L 09 (chin) tháng tù;

;

Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm giam 15/6/2020 (ngày mười lăm, tháng sáu, năm hai nghìn không trăm hai mươi).

Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015; Điềm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 chìa khóa bằng kim loại, chiều dài 20,5cm (trên thân khóa có hành chữ DIAMOND và số 17) (đã qua sử dụng); 01 cây kiềm bấm, bằng kim loại màu trắng, dài 14cm (đã qua sử dụng);

- Giao trả: cho ông Nguyễn Tấn S 01 xe môtô, biển kiểm soát 67H1 – 2719, nhãn hiệu Knight, màu nâu, số khung 200101365, số máy 10771534, đã qua sử dụng (không có giấy đăng ký xe).

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Tân Châu với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu ngày 04/8/2020).

- Giao trả cho các bị cáo H và L, mỗi bị cáo 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng (theo các biên lai thu 0002118 và 0002119 ngày 11/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu). Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án).

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo Nguyễn Tuấn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Võ Phi L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại, các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ