vanban.org

Bản án 44/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 08/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn M phải nộp 200.

Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự…"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn M phải nộp 200.
  • Căn cứ chính? Điều 260 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2020/HS-ST
Ngày 28-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sự

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Đông

Ông Hoàng Đắc Hân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà –Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên,thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ThN, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện ThN xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2020/HSST ngày 10 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2020/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2020/HSST-QĐ ngày 20 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Hoàng Văn M, sinh năm 1974 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn 06, xã CN, huyện ThN, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12 dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn M và bà Đặng Thị Nh; vợ là Lại Thị V; có 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/11/2019 đến ngày 28/11/2019 chuyển tạm giam. Có mặt.

- Bị hại:

Anh Hoàng Văn Th, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn 01, xã CN, huyện ThN, thành phố Hải Phòng (đã chết). Người đại diện hợp pháp: Bà Hoàng Thị N, sinh năm 1947; địa chỉ: Thôn 01, xã CN, huyện ThN, thành phố Hải Phòng là mẹ của anh Hoàng Văn Th và chị Phạm Thị Ng, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn 01, xã CN, huyện ThN, thành phố Hải Phòng là vợ của anh Hoàng Văn Th, đều vắng mặt.

Anh Trần Văn Ch, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn TL, xã CN, huyện ThN, thành phố Hải Phòng (đã chết). Người đại diện hợp pháp: bà Hoàng Thị N, sinh năm 1947; địa chỉ: Thôn 01, xã CN, huyện ThN, thành phố Hải Phòng, bà Lê Thị Kim L, sinh năm 1972, anh Trần Quốc T, sinh năm 1993, anh Trần Thanh T, sinh năm 1995 và chị Trần Thị Ngọc A, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn TL, xã CN, huyện ThN, thành phố Hải Phòng là vợ con anh Trần Văn Ch, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 20/11/2019, tại đường liên thôn thuộc thôn 5, xã CN, huyện ThN, thành phố Hải Phòng xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa xe nâng, bánh lốp (không có biển kiểm soát, không có giấy tờ xe) do Hoàng Văn M điều khiển vận chuyển gạch (loại gạch chỉ 6 lỗ) ở đường liên thôn đã làm hai càng xe nâng (quay ngang vuông góc với trục đường) đã cứa đứt cổ anh Hoàng Văn Th, sinh năm 1977, ở thôn 1, xã CN, huyện ThN, thành phố Hải Phòng đang điều khiển xe mô tô biển số 16N1- 0240 phía sau chở anh Trần Văn Ch, sinh năm:1966 là người cùng thôn, đi theo hướng từ Ủy ban nhân dân xã CN về hướng từ tỉnh lộ 352. Hậu quả anh Th tử vong tại chỗ, sau khi va chạm, xe mô tô (không có người lái) theo đà tiếp tục lao vào đống gạch bên tay phải gần đó bị hư hỏng nhẹ, anh Ch ngã văng ra đường được đưa đi bệnh viện cấp cứu đến hồi 13 giờ 25 phút cùng ngày tử vong. Ngay sau khi xảy ra tai nạn, do hoảng sợ nên M đi lang thang trong xã Mỹ Đồng, sau đó về nhà thì biết cơ quan công an triệu tập nên ngày 21/11/2019, M đến Công an huyện ThN đầu thú.

Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm các tử thi thu thập các dấu vết:

- Tử thi Hoàng Văn Th có các tổn thương như sau: Vùng cằm có 02 vết thương rách da hướng nằm ngang, cách trên gót chân 141cm, bờ mép không gọn, kích thước mỗi vết là (03cm x 01cm). Vùng cổ phải có 01 vết thương rách da bờ mép tương đối gọn hướng nằm ngang, cách trên gót chân 140cm (kích thước 13cm x 1,5cm), kiểm tra vết thương thấy đứt cơ ức đòn chũm bên phải, sờ nắn thấy gãy di lệch xương cột sống cổ. Vùng mu bàn tay trái có vết xây xước da (kích thước 07cm x 02cm). Vùng mặt trước gối trái có vết xây xước da (kích thước 0,5cm x 0,5cm). Tại bản Kết luận giám định Pháp y số 276/2019/TT ngày 25/11/2019 của Trung tâm pháp y thành phố Hải Phòng kết luận: Nguyên nhân nạn nhân Hoàng Văn Th chết do chấn thương gãy xương cột sống cổ nặng; cơ chế hình thành do bị chấn thương mạnh vùng mặt, cổ gây vết thương rách da, gãy di lệch xương cột sống cổ. Tại Kết luận pháp y về hóa pháp số 543/2019/PY-XNĐH ngày 05/12/2019 của Viện pháp y Quân đội kết luận: nồng độ cồn (Ethanol) trong mẫu máu của nạn nhân Hoàng Văn Th là 32,6mg/100ml.

- Tử thi Trần Văn Ch có các tổn thương như sau: Vùng thái dương phải có vết sưng nề nhẹ (kích thước 05cm x 05cm). Vùng cằm phải có vết thương rách da (kích thước 04cm x 01cm) hướng từ trước về sau, kiểm tra thấy gãy di lệch xương cột sống cổ. Vùng mu bàn tay phải có 02 vết thương xây xước da (kích thước 0,5cm x 0,5cm và 0,3cm x 0,3cm). Tại bản Kết luận giám định pháp y số 277/2019/TT ngày 25/11/2019 của Trung tâm pháp y thành phố Hải Phòng kết luận: Nguyên nhân nạn nhân Trần Văn Ch chết do suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp không hồi phục do đa chấn thương, chấn thương sọ não và chấn thương gãy xương cột sống cổ nặng. Tại Kết luận pháp y về hóa pháp số 542/2019/PY-XNĐH ngày 05/12/2019 của Viện pháp y Quân đội kết luận: nồng độ cồn (Ethanol) trong mẫu máu của nạn nhân Trần Văn Ch là 16,1mg/100ml máu.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra thu thập các dấu vết: Hiện trường được khám nghiệm theo hướng từ Ủy ban nhân dân xã CN đi tỉnh lộ 352. Điểm mốc được xác định cột điện bê tông tròn có ký hiệu L1ML2/7 trên lề đường bên trái theo hướng khám nghiệm. Đoạn đường xảy ra tai nạn là đường liên thôn, mặt đường rộng 7m, trải bê tông phẳng, thẳng, khô ráo, không có vật cản che khuất tầm nhìn. Một xe nâng nằm sát mép đường bên phải theo hướng khám nghiệm, đầu xe quay ngược hướng khám nghiệm, trục bánh xe sau bên phải cách cột mốc là 51,7m và cách đầu nạn nhân nằm trên mặt đường 41,8m. Một vết phanh di trượt trên mặt đường dài 3m, điểm đầu và điểm cuối lần lượt cách mép đường phải theo hướng khám nghiệm 2,4m và 1,8m; cách gót chân bên phải nạn nhân nằm trên mặt đường 0,8m. Một nạn nhân nam giới nằm úp trên mặt đường song song với mép đường phải, đầu nạn nhân quay theo hướng khám nghiệm; đầu và gót chân phải đều cách mép đường phải theo hướng khám nghiệm 2,95m; cách điểm đầu đám máu loang trên mặt đường 1,1m. Một đám máu loang trên mặt đường (kích thước 2,3cm x 02m) điểm đầu và điểm cuối lần lượt cách mép đường bên phải theo hướng khám nghiệm là 2,15m và 0,3m. Một đám vết cày xước trên lề đường bên phải theo hướng khám nghiệm (kích thước 1,2cm x 0,8m) điểm đầu và điểm cuối lần lượt cách mép đường phải theo hướng khám nghiệm là 4,5m và 4,9m. Một xe mô tô biển số 16N1 – 0240 đổ nghiêng phải trên lề đường bên phải theo hướng khám nghiệm, trục bánh xe trước và sau lần lượt cách mép đường phải theo hướng khám nghiệm là 5,8m và 05m, cách cột mốc là 16m.

Tiến hành khám nghiệm các phương tiện tham gia giao thông gây tai nạn, Cơ quan điều tra thu thập các dấu vết:

- Xe nâng, nhãn hiệu Misubishi, màu sơn vàng: Mặt trên bên trái đầu xe nâng bám dính lại tạp chất màu nâu dạng dịch đã khô (kích thước 08cm x 08cm). Mặt ngoài vành xe bên trái phía trước có dính tạp chất là dạng dịch đã khô. Cạnh mặt ngoài vành xe (la zăng bánh trước bên trái) có vết mài xước (kích thước 07cm x 0,5cm) điểm đầu cách số 70012 cạnh lốp xe là 3cm, chiều hướng từ trước về sau. Cạnh phía sau thân xe bên trái có vết mài xước tróc sơn (kích thước 10cm x 08cm), điểm thấp nhất cách mặt đất 78cm, điểm cao nhất cách mặt đất 85cm, theo chiều từ trước về sau. Cạnh phía sau thân xe bên trái có vết mài xước tróc sơn (kích thước 12cm x 08cm), điểm thấp nhất cách mặt đất 59cm, điểm cao nhất cách mặt đất 67cm. Phía sau xe có vết mài xước tróc sơn (kích thước 60cm x 14cm), điểm thấp nhất cách mặt đất 32cm, điểm cao nhất cách mặt đất 77cm không rõ chiều hướng.

- Xe mô tô biển số 16N1 - 0240, nhãn hiệu Yamaha, màu sơn đỏ đen: Mặt ốp đầu tay phanh bên phải có vết mài xước kim loại theo chiều từ trước về sau và từ dưới lên trên (kích thước 03cm x 01cm). Ốp nhựa và cạnh ngoài đèn chuyển hướng bên phải phía trước có vết mài xước nhựa (kích thước 09cm x 02cm) theo chiều từ trước về sau và từ dưới lên trên. Đầu tay phanh bên phải có vết mài xước kim loại (kích thước 01cm x 01cm), theo chiều trước về sau và từ dưới lên trên. Đầu tay lái bên phải có vết mài xước nham nhở cao su (kích thước 1,5cm x 01cm), theo chiều từ trước về sau và từ dưới lên trên. Đầu bàn để chân bên phải phía trước có vết mài xước rách thủng cao su nham nhở, theo chiều từ trước về sau và từ dưới lên trên. Ốp ống xả bên phải có vết mài xước kim loại (kích thước 38cm x 06cm), theo chiều từ trước về sau. Ốp nhựa và đèn chuyển hướng bên trái phía trước có vết mài xước (kích thước 09cm x 05cm), theo chiều từ trước về sau. Yếm xe bên trái có vết mài xước nhựa (kích thước 37cm x 13cm), theo chiều từ trước về sau. Hệ thống phanh trước phanh sau hai bên có tác dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 124/GĐSH/2019 ngày 27/11/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Mẫu tạp chất thu tại mặt trên và mẫu tạp chất thu tại mặt dưới đầu cần nâng phía bên trái trên xe nâng của bị cáo gửi giám định có ADN người, là ADN của Hoàng Văn Th. Mẫu tạp chất thu tại mặt ngoài vành bánh xe phía trước bên trái trên xe nâng của Hoàng Văn M gửi giám định không phát hiện thấy ADN người.

- Về vấn đề dân sự trong vụ án: Các bên đã giải quyết xong, đại diện hợp pháp của những người bị hại không yêu cầu bồi thường thêm.

-Vật chứng của vụ án gồm:

Đối với chiếc xe nâng nhãn hiệu Misubishi, màu sơn vàng không có biển kiểm soát, không có giấy tờ xe do M điều khiển gây tai nạn và chiếc xe 01 xe mô tô biển kiểm soát 16N1 – 0240 nhãn hiệu Yamaha, màu sơn đỏ đen (số khung: RLCS5C6207Y062619, số máy: 5C62-062619) anh Th điều khiển tham gia giao thông bị tai nạn. Quá trình điều tra, đều chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp của 02 chiếc xe trên nên Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện ThN tách ra tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.

Bản Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 09 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên đã truy tố bị cáo Hoàng Văn M về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a,c,đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự với các tình tiết định khung là: Không có giấy phép lái xe; Cố ý không cứu giúp người bị nạn và làm chết 02 người quy định tại khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, bị cáo tỏ ra rất ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa những người đại diện hợp pháp của các bị hại đều vắng mặt nhưng có lời khai trong hồ sơ vụ án thể hiện đã nhận đủ tiền bồi thường, không đề nghị gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ThN vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung Cáo trạng đã được công bố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a,c,đ khoản 2 Điều 260, Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tình từ ngày tạm giữ 21/11/2019. Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã tách ra xử lý sau nên đề ngị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; Về bồi thường thiệt hại: Không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ThN, Viện kiểm sát nhân dân huyện ThN và người tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan này trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

. Những chứng cứ xác định tội: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp lời khai tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại; người làm chứng; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản khám nghiệm phương tiện và Bản kết luận giám định pháp y và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định: Khoảng 12 giờ 30 ngày 20/11/2019, bị cáo Hoàng Văn M điều kiển xe nâng vận chuyển gạch ở đường liên thôn đã làm hai càng xe nâng (quay ngang vuông góc với trục đường) đã cứa đứt cổ anh Hoàng Văn Th đang điều khiển xe mô tô biển số 16N1-0240, làm xe mô tô chở phía sau anh Trần Văn Ch đâm vào đống gạch bên phải gần đó, anh Ch ngã văng ra đường, được đưa đi cấp cứu đến hồi 13 giờ 25 phút cùng ngày tử vong. Hành vi của Hoàng Văn M đã vi phạm khoản 5 Điều 15 (Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải ... nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác) và khoản 1 Điều 62 (Người điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khỏe phù hợp với ngành nghề lao động và có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ, bằng hoặc chứng chỉ điều khiển xe máy chuyên dùng do cơ sở đào tạo người điều khiển xe máy chuyên dùng cấp) của Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả làm 02 người chết. Như vậy, đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Văn M đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Hoàng Văn M đã điều khiển xe nâng không có biển kiểm soát, không có giấy tờ xe đã gây tai nạn làm chết 02 người, sau khi gây tai nạn bị cáo đã không cứu giúp người bị hại mà trốn đi lang thang trong xã Mỹ Đồng. Vì vậy, bị cáo phải bị chịu các tình tiết định khung quy định tại điểm a (Làm chết 02 người), c (Cố ý không cứu giúp người bị nạn), đ (Làm chết 02 người) khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến trật tự công cộng, trị an xã hội, gây thiệt hại đến tính mạng, tài sản của người khác nên cần áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo.

. Xem xét đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, tính chất mức độ hành vi phạm tội và quyết định hình phạt:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú và bị cáo cùng gia đình đã tự nguyện tích cực bồi thường thiệt hại, đại diện hợp pháp các bị hại đã có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng; trong tình hình hiện nay loại tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng, gây nhiều bức xúc trong nhân dân nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử có thể áp dụng mức hình phạt trên khởi điểm của khung hình phạt theo đề nghị của Kiểm sát viên là đủ để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

. Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Tuy nhiên xét thấy không cần thiết nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của các bị hại không yêu cầu đề nghị gì khác về phần dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe nâng nhãn hiệu Misubishi, màu sơn vàng không có biển kiểm soát, không có giấy tờ xe do M điều khiển gây tai nạn và chiếc xe 01 xe mô tô biển kiểm soát 16N1 – 0240 nhãn hiệu Yamaha, màu sơn đỏ đen (số khung: RLCS5C6207Y062619, số máy: 5C62-062619) anh Th điều khiển tham gia giao thông bị tai nạn. Quá trình điều tra, đều chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp của 02 chiếc xe trên nên Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện ThN tách ra tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

.Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn M phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a,c,đ khoản 2 Điều 260; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn M 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 21/11/2019.

- Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo bản án:

Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện hợp pháp của các bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ