- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh L - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2020/HS-ST Ngày: 10-12-2020 |
NHÂN DANH
N ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ NG HẢI TỈNH BẠC LIÊU
- Thành ph n H i đ ng xét x s th m g m có:
Thẩm phán - h t a phiên tòa: Ông Tăng Giàu
ác Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Tiền
Ông Nguyễn Minh Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị An, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Lê Quốc Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2020/TLST-HS, ngày 03 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2020/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:
Lê Thanh L, sinh năm: 1991; tại huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Trung T (đã chết) và bà Trần Cẩm B, sinh năm 1954; anh chị em ruột có 04 người, lớn nhất sinh năm 1972, nhỏ nhất là bị cáo; có vợ Đỗ Tú N, sinh năm 1992 và 02 người con lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo bị khởi tố ngày 08/6/2020 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay (có mặt).
- Bị hại: Anh Lê Thành D, sinh năm 1994; nơi cư trú ấp H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
- Người làm chứng: Anh Trần Văn S, sinh năm 1980 (vắng mặt); chị Huỳnh Thị N, sinh năm 1984 (vắng mặt); anh Nguyễn Diệu A, sinh năm 1986 (vắng mặt); anh Huỳnh Thúy Ng, sinh năm 1984 (vắng mặt); cùng nơi cư trú ấp H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lê Thanh L với anh Lê Thành D có mối quan hệ là anh em chú bác ruột với nhau (cha của bị cáo L là anh ruột ông Lê Huệ T, ông T là cha ruột anh Lê Thành D). Hai gia đình bị cáo L và anh D đã có mâu thuẫn về việc tranh chấp đất đai từ trước, nên ngày 20/9/2016 hai bên gia đình ông Huệ T và anh Lê Thanh T (anh ruột bị cáo L) đánh nhau, kết quả ông Huệ T gây thương tích cho anh T với tỷ lệ 23%, còn anh D dùng kéo gây thương tích cho bị cáo L với tỷ lệ 10% và được giải quyết bằng Bản án số 43/2017/HS-ST ngày 22/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đ và Bản án số 08/2018/HS-PT ngày 06/02/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xử phạt Lê Huệ T 09 tháng tù, khắc phục hậu quả cho anh Lê Thanh T 44.798.444 đồng; xử phạt Lê Thành D 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, khắc phục hậu quả cho Lê Thanh L 12.794.789 đồng (anh D vẫn chưa khắc phục hậu quả cho bị cáo L 10.000.000 đồng).
Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 08/5/2019, bị cáo L đến quán nước của anh Trần Văn S, sinh năm 1980, tại ấp H, xã Đ, huyện Đ; bị cáo L cùng với anh S, anh Nguyễn Diệu A, sinh năm 1986 và anh Huỳnh Thúy Ng, sinh năm 1984 cùng cư trú ấp H có tham gia chơi đánh bài uống nước tại phần đất trước nhà anh S cạnh lộ bê tông (đoạn H – T), lúc này bị cáo L ngồi quay lưng ra lộ cách lề lộ khoảng 0,7m và đối diện với anh Ng, phía tay trái bị cáo L là anh S ngồi quay mặt hướng ra lộ H - T, đối diện với anh Diệu A. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, anh D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha kiểu dáng Exciter màu đỏ đen biển kiểm soát 69E1-356.14 chạy từ hướng ấp H ra xã T. Khi đến đoạn đường cong anh D điều khiển xe mô tô chạy gần sát với vị trí bị cáo L đang ngồi thì bị cáo L nói lớn tiếng với anh D “mày chạy gì mà muốn thí tao luôn vậy”, do đó anh D dừng xe lại đậu trên lộ cách vị trí bị cáo L khoảng 10m. Bị cáo L thấy vậy nên dừng chơi bài và đi về phía anh D, anh D cũng đi về phía bị cáo và hai bên lời qua tiếng lại dẫn đến xảy ra xô xát cùng dùng tay đánh về phía đối phương, trong lúc đánh nhau bị cáo L đã cầm nắm hai bàn tay đánh móc với lực mạnh từ dưới lên trên trúng nhiều cái vào vùng mặt anh D khi anh D trong tư thế cúi mặt xuống đất gây thương tích cho anh D. Sự việc được anh S và mọi người vào can ngăn thì bị cáo L bỏ đi, anh D được người nhà đưa đi Trung tâm y tế xã Đ sơ cứu, sau đó tiếp tục đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Cà Mau điều trị. Sự việc được trình báo đến Công an xã Đ tiến hành lập biên bản, đến ngày 12/5/2019, anh D có đơn yêu cầu xử lý hình sự và bồi thường trách nhiệm dân sự đối với bị cáo L.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 158/TgT ngày 09/12/2019 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Bạc Liêu kết luận thương tích của anh Lê Thành D với tỷ lệ: 11%.
Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra không thu giữ.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Thành D yêu cầu bị cáo Lê Thanh L bồi thường trách nhiệm dân sự số tiền 9.170.000 đồng, bao gồm chi phí điều trị thương tích 2.070.000 đồng; tiền ăn uống, đi lại, tiền công lao động của người bệnh và người nuôi bệnh trong thời gian nhập viện 4.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần 2.000.000 đồng; tiền chụp hình city giám định 1.100.000 đồng.
Tại cáo trạng số: 50/CT-VKS-KSĐT, ngày 31 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu truy tố bị cáo Lê Thanh L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thanh L phạm tội “Cố ý gây thương tích”; áp dụng khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và các Điều 38, 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 03 (ba) tháng đến 06 (sáu) tháng tù; Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Thanh L bồi thường cho anh Lê Thành D số tiền 9.170.000 đồng. Bị cáo Lập đã nộp khắc phục hậu quả tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ 2.000.000 đồng được đối trừ. Bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh L thừa nhận hành vi phạm tội, tự nguyện bồi thường toàn bộ số tiền như bị hại yêu cầu 9.170.000 đồng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.
Bị hại anh Lê Thành D trình bày ý kiến: Về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật; về trách nhiệm dân sự yêu cầu bị cáo bồi thường 9.170.000 đồng. Ngoài ra, không trình bày ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về sự vắng mặt của người làm chứng anh Trần Văn S, chị Huỳnh Thị N, anh Nguyễn Diệu A và anh Huỳnh Thúy Ng: Xét thấy trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của người làm chứng, việc vắng mặt họ không cản trở cho việc xét xử, căn cứ khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt họ.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dụng Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố, phù hợp với Bản kết luận giám định về thương tích và lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 158/TgT ngày 09/12/2019 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Bạc Liêu kết luận thương tích của anh Lê Thành D như sau: Gãy thành bên trái xương mũi, vỡ xoang hàm trái không di lệch. Tỷ lệ: 11% (mười một phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích là do vật tày tác động từ trước ra sau; Hết sưng nề vùng mũi và má trái: Theo Thông tư 20 không quy định tỷ lệ. Cơ chế hình thành thương tích là do vật tày tác động từ trước ra sau. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu truy tố bị cáo Lê Thanh L về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
. Từ những chứng cứ nêu trên đã có đủ cơ sở kết luận: Do có mâu thuẫn từ trước, từ việc tranh chấp đất đai và trong các vụ đánh nhau giữa gia đình bị cáo Lê Thanh L và anh Lê Thành D nên vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 08/5/2019, tại tuyến lộ bê tông thuộc ấp H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo L và anh D đã xảy ra xô xát với nhau, bị cáo L dùng nắm tay đánh mạnh nhiều cái trúng vào vùng mặt của anh D gây thương tích cho anh D với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11% (mười một phần trăm).
. Hành vi của bị cáo Lê Thanh L đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe c a người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác. Bị cáo nhận thức rõ việc dùng nắm tay đánh mạnh nhiều cái vào vùng mặt người khác có khả năng gây thiệt hại đến sức khỏe của họ nhưng vẫn thực hiện. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
. Khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo Lê Thanh L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự nguyện khắc phục một phần hậu quả số tiền 2.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ. Đồng thời, bị hại anh Lê Thành D cũng có một phần lỗi (chủ động dừng xe mô tô đang điều khiển và đến cự cải đánh nhau với bị cáo Lập) đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng cho bị cáo để quyết định hình phạt cho phù hợp.
. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương nơi cư trú, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tù có điều kiện cũng đủ để giáo dục bị cáo thành công dân tốt sau này.
. Đối với anh Lê Thành D có hành vi đánh nhau với bị cáo Lê Thanh L, tuy nhiên hành vi này không cấu thành tội phạm cụ thể nên Cơ quan điều tra không đề cập xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh D là có căn cứ. Đối với hành vi đánh nhau giữa bị cáo Lê Thanh L và anh Lê Thành D chưa đủ cơ sở để cấu thành tội phạm về gây rối trật tự công cộng nên Cơ quan điều tra không đặt ra xem xét trách nhiệm hình sự về hành vi này là có cơ sở.
. Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Thành D yêu cầu bị cáo Lê Thanh L bồi thường trách nhiệm dân sự số tiền 9.170.000 đồng, bao gồm chi phí điều trị thương tích 2.070.000 đồng; tiền ăn uống, tàu xe đi lại, tiền công lao động của người bệnh và người nuôi bệnh trong thời gian nhập viện 4.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần 2.000.000 đồng; tiền chụp hình city giám định 1.100.000 đồng. Xét thấy, bị cáo L gây thương tích cho anh D và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đồng ý tự nguyện bồi thường toàn bộ số tiền nêu trên nên ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo, buộc bị cáo Lê Thanh L bồi thường cho anh Lê Thành D số tiền 9.170.000 đồng. Bị cáo L đã nộp khắc phục hậu quả tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ 2.000.000 đồng được đối trừ. Bị cáo L còn phải bồi thường tiếp số tiền 7.170.000 đồng.
. Về án phí: Bị cáo Lê Thanh L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 358.500 đồng (7.170.000 đồng x 5%).
. Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, tình tiết giảm nhẹ và các vấn đề khác có liên quan trong vụ án là có căn cứ nên được chấp nhận; đối với hình phạt là chưa phù hợp nên không chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Thanh L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thanh L 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, thời gian thử thách tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/12/2020).
Giao bị cáo Lê Thanh Lập cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp bị cáo Lê Thanh L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại các Điều 68 và 92 Luật thi hành án hình sự.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 357, 468, 584, 586 và 590 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Lê Thanh Lập bồi thường cho anh Lê Thành Danh số tiền 9.170.000 đồng. Bị cáo L đã nộp khắc phục hậu quả tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải 2.000.000 đồng được đối trừ. Bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho bị hại anh Danh số tiền 7.170.000 đồng.
Khoản tiền bồi thường kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và anh Lê Thành Danh có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chậm bồi thường thì phải chịu thêm khoản tiền lãi đối với số tiền chậm bồi thường tương ứng với thời gian chậm bồi thường. Lãi suất chậm bồi thường thực hiện theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Thanh L phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 358.500 (Ba trăm năm mươi tám nghìn năm trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Thanh L và bị hại anh Lê Thành D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. N i nhận:
| - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND tỉnh Bạc Liêu; - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Đ; - CQĐT CA huyện Đ; - CCTHADS huyện Đ; - Bị cáo; Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thanh Tiền Nguyễn Minh Hoàng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Tăng Giàu THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tăng Giàu |