vanban.org

Bản án 44/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 04/05/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/05/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Trọng N, Nguyễn Đăng H, Vũ Văn T; s a Bản án hình s sơ th m số 23/2020/HS-ST ngày 17/01/2020 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D tỉnh Bình Dương về phần hình ph t như sau:

1 Áp d ng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình s năm 2015 (s a đổi bổ sung năm 2017): X ph t bị cáo Nguyễn Trọng N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hư ng án treo thời gian th thách là 03 (ba) năm thời gian th thách tính … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng N và đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Trọng N, Nguyễn Đăng H, Vũ Văn T; s a Bản án hình s sơ th m số 23/2020/HS-ST ngày 17/01/2020 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D tỉnh Bình Dương về phần hình ph t như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình s; Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:44/2020/HS-PT
Ngày: 28-4-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sang;

Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Huỳnh Đức;

2. Ông Trương Văn Lộc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 27, 28 tháng 4 năm 2020 t i tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên toà xét x phúc th m công khai v án hình s phúc th m th lý số 31/2020/TLPT-HS ngày 28 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Trọng N và đồng ph m. Do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Trọng N, Vũ Văn T, Nguyễn Đăng H đối với Bản án hình s sơ th m số 23/2020/HS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D tỉnh Bình Dương.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Trọng N sinh năm 1982, t i tỉnh Thanh Hóa; thường trú: Thôn 8, xã Q huyện X tỉnh Thanh Hóa; t m trú: Tổ 17 khu 4 phường M thành phố T tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng S sinh năm 1958 (chết) và bà Bùi Thị X sinh năm 1958; bị cáo có vợ tên là Nguyễn Thị P sinh năm 1986 và có 03 người con (lớn nhất sinh năm 2007 nhỏ nhất sinh năm 2019); tiền án tiền s : Không; bị bắt t m giữ ngày 08/10/2019 đến ngày 17/10/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú bị cáo t i ngo i có mặt t i phiên tòa.

2. Vũ Văn T sinh năm 1991, t i tỉnh Tuyên Quang; thường trú: Thôn 13 xã B huyện Y tỉnh Tuyên Quang; t m trú: Số 01/13B, khu phố P phường G thị xã (nay là thành phố) D tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn X sinh năm 1950 và bà Vũ Thị T sinh năm 1960; bị cáo có vợ là Lê Nguyễn An T có một người con sinh năm 2017; tiền án tiền s : Không; bị bắt t m giữ ngày 11/10/2019 đến ngày 17/10/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo t i ngo i có mặt t i phiên tòa.

3. Nguyễn Đăng H sinh năm 1985, t i tỉnh Nghệ An; thường trú: Số 88/15, khu phố A phường H thị xã D tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam con ông Nguyễn Đăng T sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1954; có vợ tên Đặng Thị H sinh năm 1989 và 01 người con, sinh năm 2019; tiền án tiền s : Không; bị bắt t m giữ ngày 08/10/2019 đến ngày 17/10/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú bị cáo t i ngo i có mặt t i phiên tòa.

Ngoài ra trong v án còn có nguyên đơn dân s người có quyền lợi nghĩa v liên quan nhưng không có kháng cáo không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Công ty TNHH MTV Công nghiệp M (gọi tắt là Công ty M) chuyên sản xuất hàng th c ph m và ký hợp đồng mua bao bì thùng giấy carton với Công ty Cổ phần bao bì Q(gọi tắt là Công ty S). Để vận chuyển hàng Công ty S ký hợp đồng thuê Công ty TNHH Vận tải K(gọi tắt là Công ty K) vận chuyển. Nguyễn Trọng N là lái xe, ông Lê Thanh V là ph xe của Công ty K. Nguyễn Trọng N nhiều lần ch hàng giao cho Công ty M nên Nguyễn Trọng N quen biết với Nguyễn Đăng H và Vũ Văn T là nhân viên kho của Công ty M. Trong những lần giao hàng, Nguyễn Trọng N phát hiện quy trình khi vào cổng của Công ty M, nếu trên xe ô tô tải còn bao bì giao cho Công ty khác thì lái xe sẽ khai báo với bảo vệ cổng rồi xin giấy đăng ký mang thiết bị ra vào Công ty để khi ra cổng không bị kiểm tra hoặc có kiểm tra thì cũng đã có khai báo trước đó. Lợi d ng kẽ h này Nguyễn Trọng N đã kết nối với Nguyễn Đăng H, Vũ Văn T nhân viên kho của Công ty M để chiếm đo t tài sản của Công ty M c thể:

Lần thứ nhất: Ngày 03/10/2019, Nguyễn Trọng N điều khiển xe ô tô tải có mui màu trắng tải trọng 3.925kg nhãn hiệu HINO biển số 61C-150.65 cùng Văn đến chi nhánh Công ty S t i khu công nghiệp M thị xã C tỉnh Bình Dương ch 1.160 thùng bao bì đến giao cho Công ty M. Khi đến cổng Công ty M khoảng 11 giờ cùng ngày t i đây Nguyễn Trọng N nói Lê Thanh V báo với bảo vệ Công ty M trên xe còn bao bì giao Công ty khác, bảo vệ phát cho Lê Thanh V giấy đăng ký mang thiết bị ra vào nhà máy. Sau đó Nguyễn Trọng N nói Lê Thanh V ghi vào giấy với nội dung còn bao bì mang ra (không rõ số lượng c thể do không thu giữ được giấy này). Trong quá trình nhập hàng t i kho F5 Nguyễn Trọng N rủ Nguyễn Đăng H chiếm đo t bao bì giấy carton phế liệu của Công ty M đem ra ngoài bán và hẹn gặp nhau t i kho F8. Sau khi giao hết bao bì giấy trên xe tải Lê Thanh V đi làm thủ t c nhập kho còn Nguyễn Trọng N điều khiển xe đến kho F8 gặp Nguyễn Đăng H. Nguyễn Đăng H điều khiển xe nâng đến kho F3 là nơi để rác của Công ty M dùng xe nâng 01 ba lết chứa 280kg bao bì giấy phế liệu ch đến kho F8 cho Nguyễn Trọng N bốc giấy bỏ lên thùng xe tải biển số 61C-150.65. Sau đó Nguyễn Trọng N điều khiển xe tải biển số 61C-150.65 ch bao bì giấy phế liệu chiếm đo t được cùng Lê Thanh V đến tiệm phế liệu không gắn bảng hiệu t i địa chỉ số 998 đường DT743 khu phố C phường R thị xã D, tỉnh Bình Dương bán cho chủ tiệm là ông Lê Đình N với giá 2.500 đồng/kg được số tiền là 700.000 đồng. Đến ngày 04/10/2019 Nguyễn Trọng N đến Công ty M chia cho Lê Đình N 200.000 đồng Nguyễn Trọng N giữ l i 500.000 đồng số tiền trên Nguyễn Đăng H và Nguyễn Trọng N tiêu xài cá nhân hết.

T i Kết luận định giá tài sản số 222/BB.ĐG ngày 18/10/2019 của Hội đồng định giá thị xã D: Thùng giấy carton phế liệu trị giá 2.500 đồng/kg. Trị giá tài sản Nguyễn Trọng N và Nguyễn Đăng H chiếm đo t trong ngày thứ nhất là 700.000 đồng.

Lần thứ hai: Ngày 07/10/2019 sau khi nhận được yêu cầu của Công ty S và Công ty K, yêu cầu Nguyễn Trọng N ch 3.760 thùng bao bì giấy carton giao cho Công ty M và 455 thùng bao bì giấy carton cho Công ty TNHH J t i ấp K, xã Hóa An thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai.

Từ chi nhánh Công ty S t i Khu công nghiệp M, Nguyễn Trọng N điều khiển xe tải biển số 61C-150.65 cùng ph xe Văn ch bao bì tới Công ty M khoảng 13 giờ cùng ngày. Khi đến cổng Công ty M thì Nguyễn Trọng N nói với Lê Thanh V báo với bảo vệ trên xe còn có bao bì giao cho Công ty khác, bảo vệ phát cho Lê Thanh V giấy đăng ký mang thiết bị ra vào nhà máy sau đó Nguyễn Trọng N nói với Lê Thanh V ghi vào giấy với nội dung còn bao bì mang ra (không rõ số lượng c thể do không thu giữ được giấy này). Trong quá trình nhập hàng t i kho F5 Nguyễn Trọng N rủ Nguyễn Đăng H chiếm đo t giấy và hẹn gặp nhau t i kho F8. Trong lúc Lê Thanh V đi làm thủ t c nhập kho, Nguyễn Trọng N điều khiển xe đến kho F8 gặp Nguyễn Đăng H. Nguyễn Đăng H điều xe nâng đến kho F3 nâng 02 ba lết chứa 400kg bao bì giấy phế liệu ch về kho F8 cho Nguyễn Trọng N bốc hàng là giấy lên thùng xe tải biển số 61C-150.65 rồi ch bao bì giấy phế liệu trộm cắp được cùng Lê Thanh V đến tiệm phế liệu t i địa chỉ số 998 đường DT743 khu phố C phường R thị xã D tỉnh Bình Dương bán cho chủ tiệm là ông Lê Đình N với giá 2.500 đồng/kg được số tiền là 1.000.000 đồng. Sau đó Nguyễn Trọng N và Nguyễn Đăng H chia nhau mỗi người 500.000 đồng tiêu xài cá nhân hết.

T i Kết luận định giá tài sản số 222/BB.ĐG ngày 18/10/2019 của Hội đồng định giá thị xã D: Thùng giấy carton phế liệu trị giá 2.500 đồng/kg. Trị giá tài sản Nguyễn Trọng N và Nguyễn Đăng H chiếm đo t trong ngày thứ hai 1.000.000 đồng.

Lần thứ ba: Ngày 08/10/2019, Công ty S và Công ty K điều động Nguyễn Trọng N ch 5.200 thùng bao bì giấy carton giao cho Công ty M. Nguyễn Trọng N điều khiển xe ô tô tải biển số 61C-150.65 cùng Lê Thanh V đến chi nhánh Công ty S t i Khu công nghiệp M, Nguyễn Trọng N điều khiển xe tải biển số 61C-150.65 cùng ph xe Lê Thanh V ch bao bì tới Công ty M lúc 14 giờ 45 cùng ngày để giao. Khi Nguyễn Trọng N và Lê Thanh V đến cổng Công ty M thì Nguyễn Trọng N nói với Lê Thanh V báo với bảo vệ trên xe còn có bao bì giao cho Công ty khác thì bảo vệ phát cho Văn giấy đăng ký mang thiết bị ra vào nhà máy. Tiếp đó Nguyễn Trọng N nói với Lê Thanh V ghi vào giấy với nội dung còn 4.500 thùng bao bì mang ra rồi Lê Thanh V ký tên và đưa giấy này cho Nguyễn Trọng N giữ.

Đến khoảng 16 giờ cùng ngày trong quá trình giao hàng kho F5 Nguyễn Trọng N gặp Vũ Văn T, lúc này Vũ Văn T nói với Nguyễn Trọng N “trong kho em còn dư 30 bao đường, 10 bao bột ngọt mà không biết làm gì” Nguyễn Trọng N trả lời “vậy đem ra đây đi, tí Nguyễn Trọng N đem ra ngoài bán được bao nhiêu thì anh em chia nhau” thì Vũ Văn T hẹn gặp Nguyễn Trọng N t i kho F8. Tiếp đó Nguyễn Trọng N s d ng điện tho i nhãn hiệu Samsung J8 màu đen gắn sim số 0963.330.340 gọi cho Nguyễn Đăng H s d ng điện tho i nhãn hiệu Nokia 3310 màu xanh đen gắn sim số 0987.797.696 hỏi có giấy phế liệu không để lấy thì Nguyễn Đăng H hẹn gặp Nguyễn Trọng N kho F8 (Nguyễn Đăng H không biết Nguyễn Trọng N và Vũ Văn T bàn b c lấy trộm đường bột ngọt và ngược l i Vũ Văn T không biết Nguyễn Trọng N và Nguyễn Đăng H bàn b c lấy trộm giấy phế liệu).

Đến khoảng 17 giờ cùng ngày sau khi giao hết bao bì trên thùng xe cho Công ty M thì Lê Thanh V đi làm thủ t c nhập kho còn Nguyễn Trọng N điều khiển xe ô tô tải biển số 61C-150.65 đến kho F8 gặp Vũ Văn T điều khiển xe nâng đến kho F5 nâng 01 ba lết chứa 30 bao đường trắng thượng h ng hiệu Mimosa (50kg/bao tổng trọng lượng 30 bao là 1.500kg) và 10 bao bột ngọt (25kg/bao tổng trọng lượng là 250kg) ch đến kho F8 giao cho Nguyễn Trọng N bỏ lên thùng xe tải rồi Vũ Văn T điều khiển xe nâng đến kho F5 tiếp t c làm việc.

Sau khi lấy đường bột ngọt cùng Vũ Văn T xong, Nguyễn Trọng N điều khiển xe đến gặp Nguyễn Đăng H, thấy Nguyễn Đăng H điều khiển xe nâng đến kho F3 lần lượt nâng 05 ba lết phế liệu (mỗi ba lết nặng 15kg tổng trọng lượng là 75kg) chứa 1.229kg bao bì giấy phế liệu đem đến kho F8 giao cho Nguyễn Trọng N bỏ lên thùng xe ô tô tải biển số 61C-150.65. Cùng lúc này Lê Thanh V có đến ph giúp bốc được khoảng 10 tấm bìa giấy bỏ lên xe tải thì Nguyễn Trọng N nói Lê Thanh V đi uống nước và làm thủ t c nhập kho nên Lê Thanh V bỏ đi còn Nguyễn Trọng N tiếp t c cùng Nguyễn Đăng H bốc giấy lên xe. Sau khi bốc giấy phế liệu lên thùng xe xong Nguyễn Trọng N nhìn thấy có 35 cái rổ nh a hiệu Long Thành H S004-SH trong kho F8 nên rủ Nguyễn Đăng H lấy trộm thì Nguyễn Đăng H đồng ý và Nguyễn Trọng N lấy bỏ lên thùng xe tải.

Đến 18 giờ cùng ngày Nguyễn Trọng N đưa giấy đăng ký mang thiết bị ra vào nhà máy cho bảo vệ rồi điều khiển xe ô tô tải biển số 61C-150.65 cùng Lê Thanh V rời khỏi Công ty thì bị bảo vệ khu công nghiệp R A kiểm tra đưa về tr s Công an đồn khu công nghiệp. T i đây Nguyễn Trọng N, Nguyễn Đăng H khai nhận hành vi của mình.

Vật chứng thu giữ: 1.500 kg đường trắng thượng h ng hiệu Mimosa; 250kg bột ngọt; 1.229 kg thùng giấy carton phế liệu; 75kg ba lết nh a phế liệu; 35 cái rổ nh a hiệu Long Thành HS004-SH; 01 điện tho i nhãn hiệu Samsung J8 sim số 0963330340; 01 điện tho i nhãn hiệu Nokia 3310 màu xanh đen gắn sim số 0987797696; 01 xe tải hiệu HINO màu trắng biển số 61C-150.65.

T i Kết định giá tài sản số 222/BB.ĐG ngày 18/10/2019 của Hội đồng định giá thị xã D trị giá các tài sản như sau: 1.500kg đường trắng thượng h ng hiệu Mimosa: 16.425.000 đồng (10.950 đồng/kg); 250kg bột ngọt: 6.775.000 đồng (27.100 đồng/kg); 1.229 kg thùng giấy carton phế liệu: 3.072.500 đồng (2.500 đồng/kg); 75 kg Pallet nh a phế liệu: 450.000 đồng (6000 đồng/kg); 35 cái rổ nh a hiệu Long Thành HS004-SH (đã qua s d ng): 1.750.000 đồng (50.000 đồng/cái); 01 điện tho i nhãn hiệu Samsung J8 đã qua s d ng: 2.000.000 đồng; 01 điện tho i nhãn hiệu Nokia 3310 màu xanh đen đã qua s d ng: 300.000 đồng; 01 xe tải hiệu HINO màu trắng biển số 61C-150.65 tải trọng 3.925kg: 280.000.000 đồng.

T i Bản án hình s số 23/2020/HS-ST ngày 17/01/2020 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D tỉnh Bình Dương:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trọng N, Vũ Văn T và Nguyễn Đăng H ph m tội “Trộm cắp tài sản”

Áp d ng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình s năm 2015 (s a đổi bổ sung năm 2017): X ph t bị cáo Nguyễn Trọng N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bắt giam thi hành án được khấu trừ thời gian t m giữ t m giữ từ ngày 08/10/2019 đến ngày 17/10/2019.

Áp d ng khoản 1 Điều 173; điểm h i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình s năm 2015 (s a đổi bổ sung năm 2017):

- X ph t bị cáo Vũ Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bắt giam thi hành án được khấu trừ thời gian t m giữ t m giữ từ ngày 11/10/2019 đến ngày 17/10/2019.

- X ph t bị cáo Nguyễn Đăng H 09 (chín) tháng tù thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bắt giam thi hành án được khấu trừ thời gian t m giữ t m giữ từ ngày 08/10/2019 đến ngày 17/10/2019.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí x lý vật chứng và quyền kháng cáo.

Ngày 20/01/2020 các bị cáo Nguyễn Đăng H, Nguyễn Trọng N kháng cáo xin hư ng án treo. Ngày 30/01/2020 bị cáo Vũ Văn T kháng cáo xin hư ng án treo.

T i phiên tòa, các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Về thời h n kháng cáo đơn kháng cáo của các bị cáo đúng theo thời h n luật định nên Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa v án ra xem xét theo thủ t c phúc th m là đúng theo th m quyền và quy định của pháp luật. T i phiên tòa phúc th m các bị cáo khai nhận hành vi của mình như nội dung bản án sơ th m nhận định do vậy, Tòa cấp sơ th m xét x các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình s năm 2015 (s a đổi bổ sung năm 2017) là đúng quy định pháp luật. Các bị cáo kháng cáo xin được hư ng án treo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s nào khác. Do đó không có cơ s để chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét x căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố t ng hình s để giữ nguyên bản án của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D về hình ph t đối với bị cáo.

Trong lời nói sau cùng các bị cáo mong Hội đồng xét x xem xét cho các bị cáo được hư ng án treo để có cơ hội tiếp t c lao động chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa Hội đồng xét x nhận định như sau:

Vào ngày 08 tháng 10 năm 2019, các bị cáo Nguyễn Trọng N, Nguyễn Đăng H, Vũ Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đo t 1.500 kg đường trắng thượng h ng hiệu Mimosa; 250kg bột ngọt; 1.229 kg thùng giấy carton phế liệu; 75kg pallet nh a phế liệu; 35 cái rổ nh a hiệu Long Thành HS004-SH của Công ty M (t i Lô 6, Khu công nghiệp R A, thành phố D tỉnh Bình Dương) mang ra ngoài, tìm nơi bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì bị bảo vệ Khu công nghiệp kiểm tra phát hiện đưa về tr s Công an đồn khu công nghiệp làm việc. Tổng giá trị tài sản các bị cáo chiếm đo t là 28.472.500 đồng. Ngoài ra, vào các ngày 03 04 tháng 10 năm 2019, các bị cáo Nguyễn Trọng N, Nguyễn Đăng H còn lén lút chiếm đo t bao bì giấy phế liệu của Công ty M bán lấy tiền tiêu xài. Tổng giá trị tài sản chiếm đo t ngày 03/10/2019 là 700.000 đồng ngày 04/10/2019 là 1.000.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo th c hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định t i khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình s năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017). Do đó Tòa án cấp sơ th m xét x các bị cáo với tội danh điều khoản nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo:

Hội đồng xét x xét thấy sau khi ph m tội các bị cáo đã t nguyện bồi thường thiệt h i khắc ph c hậu quả; tài sản thu hồi giao trả cho bị h i; tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội không lớn các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s được quy định t i các h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình s năm 2015 (s a đổi bổ sung năm 2017). Ngoài lần ph m tội này các bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của địa phương. Do vậy trường hợp của các bị cáo đủ điều kiện để cho hư ng án treo quy định t i Điều 65 Bộ luật Hình s năm 2015 (s a đổi bổ sung năm 2017) và Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp d ng Điều 65 của Bộ luật Hình s về án treo. Hội đồng xét x xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội t o điều kiện cho bị cáo được t cải t o s a chữa bản thân làm người có ích cho xã hội; đồng thời thể hiện s khoan hồng của pháp luật đối với người ph m tội biết ăn năn hối cải đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong x lý người ph m tội.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét x xét thấy có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Trọng N, Nguyễn Đăng H, Vũ Văn T, s a Bản án hình s sơ th m số 23/2020/HS-ST ngày 17/01/2020 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D tỉnh Bình Dương về phần hình ph t cho đúng với tính chất mức độ th c hiện hành vi ph m tội các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s cũng như nhân thân của các bị cáo.

Các phần khác của quyết định án sơ th m không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu l c pháp luật.

Án phí hình s phúc th m: Các bị cáo không phải nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình s ;

1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Trọng N, Nguyễn Đăng H, Vũ Văn T; s a Bản án hình s sơ th m số 23/2020/HS-ST ngày 17/01/2020 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D tỉnh Bình Dương về phần hình ph t như sau:

1.1 Áp d ng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình s năm 2015 (s a đổi bổ sung năm 2017):

X ph t bị cáo Nguyễn Trọng N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hư ng án treo thời gian th thách là 03 (ba) năm thời gian th thách tính kể từ ngày tuyên án phúc th m (ngày 28/4/2020).

Giao bị cáo Nguyễn Trọng N về Ủy ban nhân dân phường M thành phố T, tỉnh Bình Dương tr c tiếp giám sát giáo d c trong thời gian th thách.

1.2. Áp d ng khoản 1 Điều 173; điểm h i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình s năm 2015 (s a đổi bổ sung năm 2017):

- X ph t bị cáo Vũ Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hư ng án treo thời gian th thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng thời gian th thách tính kể từ ngày tuyên án phúc th m (ngày 28/4/2020).

Giao bị cáo Vũ Văn T về Ủy ban nhân dân phường G thị xã (nay là thành phố) D tỉnh Bình Dương tr c tiếp giám sát giáo d c trong thời gian th thách.

- X ph t bị cáo Nguyễn Đăng H 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hư ng án treo thời gian th thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng thời gian th thách tính kể từ ngày tuyên án phúc th m (ngày 28/4/2020).

Giao bị cáo Nguyễn Đăng Hvề Ủy ban nhân dân phường H thị xã D tỉnh Bình Dương tr c tiếp giám sát giáo d c trong thời gian th thách.

Trường hợp các bị cáo Nguyễn Trọng N, Nguyễn Đăng H, Vũ Văn T thay đổi nơi cư trú thì th c hiện theo quy định t i Khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án Hình s .

Trong thời gian th thách người được hư ng án treo cố ý vi ph m nghĩa v 02 lần tr lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hư ng án treo phải chấp hành hình ph t tù của bản án đã cho hư ng án treo.

2. Về án phí: Áp d ng Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình s ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án

Các bị cáo Nguyễn Trọng N, Nguyễn Đăng H, Vũ Văn T không phải nộp.

3. Các phần khác của quyết định án sơ th m không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu l c pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc th m có hiệu l c pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ